I.
"Lê Thương là một trong những đỉnh cao nhất của dẫy Trường Sơn âm
nhạc Việt Nam"...ca sĩ Duy Trác bày tỏ sự ngưỡng mộ với người nhạc sĩ
được quen biết sau bốn thập niên. Và, dọc theo dẫy Trường Sơn đó, thiên
nhiên đã tạo dựng ra nhiều hình ảnh, theo tương truyền, được dệt thành
hoa gấm về chân dung người đàn bà thủy chung, cao quý, dâng trọn trái
tim với người chồng xa cách để biến thành thiên thu từ dân gian được đưa
vào văn học: Hòn Vọng Phu. Dựa vào sự tích đó, nhạc sĩ Lê Thương đưa vào
âm nhạc với 3 ca khúc như bức tranh hoành tráng, nguy nga bằng "truyện
ca" Hòn Vọng Phu đã đi vào trái tim mọi người, yêu thích và cảm phục.
Về hình ảnh "Hòn Vọng Phu", ở Trung Hoa đã có tự ngàn xưa, trong tác
phẩm "Hòn Vọng Phu", nữ sĩ Quỳnh Dao đã ghi lại ở chương đầu của sự
tích: "Ở phía Bắc Trung Hoa, giữa những rặng đồi núi chập chùng, ẩn hiện
rõ nét hình thù người mẹ bồng con mà dân giả bao nhiêu năm qua đều ngậm
ngùi thương nhớ đến câu chuyện thật cảm động... có một thiếu nữ xinh đẹp
vừa lấy chồng chưa tròn một năm thì người chồng phải xa lìa vợ trẻ lên
đường chinh chiến. Bao nhiêu năm đợi chờ mùa lá rụng ôm con mong ngóng
tin chồng về. Nàng không quản ngại gió mưa sương tuyết phủ phàng... cho
đến một ngày kia mẹ con người chinh phụ không còn chịu đựng nữa đã thoát
hồn vào cõi hư vô. Trời cao đã chứng giám tấm lòng trung trinh của nàng.
Thân xác mẹ con nàng đã hóa thành tượng đá và đã đi vào lịch sử, đi vào
lòng kính ngưỡng của thế gian. Và từ đó, hình ảnh mẹ con nàng trở thành
núi Vọng Phu...". Ngọn núi Vọng Phu nhìn ra ngoài biển, dưới chân núi là
vùng hoang giả, rừng cây um tùm tăm tối đầy hang động. Khu rừng đó gọi
là Đoãn Tùng Cương, băng qua nữa là Sơn Phong và Sơn Cốc.
Việt Nam có nhiều hình ảnh mẹ bồng con nằm rải rác từ Lạng Sơn vào
tận Hà Tiên, mang sự tích người vợ ôm con, trong chồng hóa đá được đặt
tên hòn Vọng Phu.
Ở Lạng Sơn, truyện kể nàng Tô Thị đứng trông chồng là Đậu Tháo đi
chiến đấu chống quân xâm lược phương Bắc, đợi chồng hóa đá, hình tượng
đó tại Đồng Đăng, được đi vào ca dao:
"Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa'
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng anh
Mãi mê quên hết lời em dặn dò".
Gần Thanh Hóa, trên núi Nhồi, nổi bật hình ảnh hòn đá lớn như chân
dung người đàn bà đứng bế con. Vẫn theo tương truyền ngày xưa, người
chồng theo tiếng gọi núi sông, chinh chiến kéo dàii, người đàn bà mòn
mỏi chờ mong, ôm con đứng trông chồng đến khi hóa thành đá.
Ở Khánh Dương, Khánh Hòa có hòn Vọng Phu, còn gọi là hòn Mẫu Tử. Theo
Nguyễn Tử Quang trong tác phẩm Điển Hay Tích Lạ "Chóp núi Vọng Phu là
một khối đá hoa cương khổng lồ, đứng thẳng lên trời, bên cạnh lại có một
khối đá khác nhỏ hơn, hai khối đá nầy tương tự hình người".
Cách Khánh Dương về hướng Bắc chạy dọc theo quốc lộ I không bao xa,
núi Đá Bia nằm trên Đào Cả thuộc Phú Yên, sừng sửng khối đá lớn trông
như tạc hình ảnh mẹ bồng con đứng nhìn ra biển, còn gọi là núi Mẹ Bồng
Con.
Trong dẫy Núi Bà, thôn Chính Oai, xã Cát Khánh, Phù Cát, Bình Định,
một hòn đá xanh cao, mọc đứng trên ngọn núi cao nhìn ra Vũng Tô, Vũng
Nồm, nhìn từ xa trông giống hình người đàn bà dắt con đứng nhìn ra biển,
được gọi là đá Vọng Phu, hòn Vọng Phu.
Sự tích hòn Vọng Phu còn dựa theo câu truyện dân gian. Trong thời tao
lọan, có hai anh em ruột vì chạy giặc phải ly tán từ thuở nhỏ. Khi chàng
trai và cô gái gặp nhau vì không nhận ra nhau nên thương yêu nhau và kết
duyên vợ chồng, sinh hạ được đứa con, ăn ở với nhau rất hạnh phúc. Thế
rồi một ngày, người chồng gội đầu cho vợ, thấy có vết sẹo, lần mò câu
chuyện, người chồng mới vỡ lẽ vết sẹo đó do chính chàng gây ra cho cô em
gái từ thuở nhỏ. Người chồng đau khổ, ân hận, không dám nói cho vợ biết,
lặng lẽ ra đi. Biệt tăm chàng, người vợ thương nhớ chồng, ôm con lên núi
đứng chờ cho đến khi hóa đá.
Chân dung người đàn bà bế con trông chồng hóa đá được đề cập nhiều
qua thi văn, Lê Thương - người nhạc sĩ tài hoa - đã mang hình ảnh vợ
chồng thời chinh chiến dựng thành "trang sử" hùng tráng và bi thương qua
lời ca và tiếng nhạc, trở thành tác phẩm âm nhạc quý báu trong kho tàng
âm nhạc Việt Nam. Qua âm nhạc, Hòn Vọng Phu của Lê Thương cho thấy sự
trưởng thành của âm nhạc Việt Nam trong giai đoạn đầu; ở đó thể hiện
trọn vẹn câu chuyện nhân gian thành trang sử đầy màu sắc về hình ảnh,
tâm tư và cả bối cảnh bi hùng, cao đẹp của thời chinh chiến.
Trong các hình ảnh về Hòn Vọng Phu, bối cảnh Lê Thương tạo dựng trong
ca khúc ở địa danh núi Nhồi, giữa vùng Thanh Hóa - Nghệ Tỉnh. Và nếu
nhìn lại thời gian xa xưa, từ Cổ Loa thành - địa danh của Vĩnh Yên -
nhìn về "Nơi phía Nam giữa núi mờ, ai bế con như đứng chờ" thì chân dung
Hòn Vọng Phu trong ca khúc được tạo dựng nơi đây. Ba ca khúc trong Hòn
Vọng Phu dàn dựng ra qua lời ca, tiếng nhạc theo tiến trình câu chuyện
với đầy đủ hình tượng trong thời chinh chiến, nam nhi theo tiếng gọi của
non sông, nữ nhi trong bổn phận nuôi con, thờ chồng, kẻ đi, người ở đều
mang trong lòng tình yêu thương cao quý, trang trải nỗi niềm luyến nhớ,
đau thương giữa nghĩa vụ và tình yêu, giữa phong ba thời cuộc và tình
nghĩa vợ chồng. Hình ảnh đó khơi dậy câu truyện được lưu truyền, nó tàng
ẩn cái tình, cái nghĩa cái thủy chung, vừa náo nhiệt vừa tĩnh lặng tạo
thành bức tranh sống động trong nhiều bối cảnh thời đao binh của lịch sử
nước nhà.
Theo nhạc sĩ Lê Thương, việc sáng tác ba bản Hòn Vọng Phu xuất phát
từ những bước luân lạc kéo dài tại xứ dừa Bến Tre. những rung cảm êm đềm
lẫn ghê rợn, tuyệt vọng đã giúp cho chàng nhạc sĩ giang hồ gốc Thăng
Long chắp nối dần các tình tiết thành một "truyện ca". Và từ năm 1945
đến đầu 1948, ba bản Hòn Vọng Phu lần lượt được tái bản tại Sài Gòn.
Hòn Vọng Phu I mở đầu với hình ảnh chiến chinh, "là một bức tranh
phác họa vài nét tiêu sơ theo điệu quân hành. Thực hiện nó bằng cảm xúc
mãnh liệt cộng với trí tưởng tượng mông lung, diệu vợi... Viết HVP I lúc
đang sống bên bờ kinh đào Chạc Sậy nối liền sông Đại với sông Bến Tre"
(Lê Thương). Không khí thời đó giống như hình ảnh trong Chinh Phụ Ngâm
của Đặng Trần Côn qua bản dịch của Đoàn Thị Điểm. Lê Thương miêu tả hình
ảnh hùng dũng của chàng trai với tiếng gọi núi sông:
"Lệnh vua hành quân, trống kêu dồn.
Quan với quân lên đường.
Đoàn ngựa xe cuối cùng. Vừa ruổi theo lối sông..."
Không khí và hình ảnh bắt gặp trong Chinh Phụ Ngâm "Thuở trời đất nổi
cơn gió bụi" phận nam nhi phải "Xếp bút nghiên theo việc đao cung" để
rồi "đi vào nơi gió cát". Và, người vợ ở nhà mang nỗi nhớ khôn nguôi,
nuôi con, ngong ngóng bóng chinh nhân trở về. Hòn Vọng Phu I đã phác họa
tổng quát câu chuyện khi chia ly trở thành ly biệt:
"Người không rời nửa kiếp gian nan
Người biến thành tượng đá ôm con"!
Hòn Vọng Phu II (Ai Xuôi Vạn Lý) bày tỏ tâm trạng người vợ, thương
chồng, nhớ chồng, chờ chồng bất kể nắng mưa:
"Bế con đã hoài công để đứng chờ.
Người chồng đi đã bao năm chưa thấy về.
Đá mòn nhưng hồn chưa mòn giấc mơ..."
Khi nàng đứng chờ thì than ôi:
"Đoàn cỏ cây hãy còn trẻ thơ.
Cho đến bây giờ đã thành đoàn cổ thụ già"
Thế nhưng nàng vẫn "Đứng ôm con xem chàng về hay chưa?".
Đứng trên ngọn núi chờ chồng, mong ai xuôi vạn lý để nhắn tin nhưng
rồi tháng năm vẫn biền biệt trôi, mòn mỏi đứng vọng về chân trời xa xôi
cho đến khi hóa đá.
Hòn Vọng Phu III (Người Chinh Phu Về), qua mùa chinh chiến, trên
đường về chập chùng núi non, mang bao niềm nhớ thương mong giải bầy với
người yêu bao năm xa cách... nhưng nhìn về phương Nam, than ôi! giữa núi
mờ, nàng biến thành tượng đá ôm con.
Trong thời kỳ bùng nổ chiến tranh Việt-Pháp, giai đoạn người trai
phải tham gia vào cuộc chiến, có người nhạc sĩ trẻ Lê Thương. Và, chính
3 ca khúc đó đã tạo thành được kích thước rộng lớn. Vì theo ông: "Lý do
khác thôi thúc tôi viết Hòn Vọng Phu là do cảm mến thân phận người chinh
phụ qua Chinh Phụ Ngâm phúc nổi tiếng... Không có gì đẹp hơn bằng cách
chuyển cuộc ra đi của người chồng vì mối tình ngang trái thành cuộc ra
đi vì đại nghĩa, và hình ảnh người đàn bà cũng trở nên hợp hơn, đúng hơn
với người chinh phụ! Người đàn bà luôn luôn chịu thiệt thòi. Cần phải
trả lại cho họ cái chức phận thiêng liêng, cao quý".
Theo diễn biến lúc hùng, lúc bi, lúc giục giã lúc lắng đọng, dòng
nhạc và lời ca của Lê Thương lột tả được ý nghĩa sâu lắng, thể hiện được
tinh hoa của âm nhạc để đi vào trái tim, niềm rung cảm của mọi người.
II .
Lê Thương tên thật là Ngô Đình Hộ, sinh ngày 8 tháng 1 năm 1914 tại
phố Hàm Long, Hà Nội. Theo học trường Nhân Bắc ở Hà Nội đến năm 1935
hành nghề giáo. Bố mẹ ông là nghệ sĩ chơi nhạc cổ ở Hà Nội vì vậy khi ở
học đường, ông tham gia phong trào ca hát. Sau khi thuyên chuyển về dạy
học ở Hải Phòng, Lê Thương cùng với Văn Cao, Hoàng Quý, Hoàng Phú, Phạm
Ngữ Canh Thân... thành lập nhóm sáng tác ca khúc âm nhạc lấy tên Đồng
Vọng. Lê Thương là một trong năm nhạc sĩ khai sinh cho nền tân nhạc Việt
Nam với nhạc phẩm Tiếng Đàn Âm Thầm (1934) và Trưng Vương (1937), tiếp
đó với các ca khúc Bản Đàn Xuân, Một Ngày Xanh, Trên Sông Dương
Tử...Nhạc sĩ tiên phong trong thể loại truyện ca như Nàng Hà Tiên (1940)
rồi được tiếp nối với Hoa Thủy Tiên, Lịch Sử Loài Người, Truyền Kỳ Lịch
Sử...
Năm 1940, Lê Thương rời Hải Phòng vào Bến Tre, lên Sài Gòn và tham
gia trong dòng sinh hoạt văn nghệ cùng anh em văn nghệ sĩ. Qua Hồi Ký
của Phạm Duy: "Trong số những bạn đồng nghiệp, tôi yêu nhất nhạc sĩ Lê
Thương. Anh rời Bến Tren lên Sài Gòn làm nghề thầy giáo... Lê Thương làm
thơ, làm nhạc rất bay bướm nhưng anh có cuộc sống rất giản dị... Vào
những năm đầu của cuộc chiến Nam Bộ, cũng như hầu hết những người trai
của thời đại, Lệ Thương có những đóng góp tich cực vào cuộc đấu tranh
chống xâm lăng, giành Tự Do, Độc Lập của toàn thể nhân dân... Thì ra Lê
Thương cũng đi vào khàng chiến để tạo những huyền thoại về người mẹ Việt
Nam... Lê Thương vào thành rất sớm. Vào năm 48, anh soạn bài Hòa Bình
48... Vào thời đó, nằm trên trục tuyên truyền của phe tả, chim bồ câu
được chọn làm biểu tượng cho hòa bình... nhưng anh Lê Thương của chúng
ta cho rằng con chim đó dang bị đau nặng... Bài Hòa Bình 48 là loại nhạc
châm biếm chính trị (satire politique) do Lê Thương dẫn đầu... Lê Thương
còn soạn thêm những bài ca châm biếm như Liên Hiệp Quốc, Làng Báo Sài
Gòn, Đốt Hay Không Đốt...
... Lê Thương cũng cũng là người chuyên soạn nhạc cho thiếu nhi,
thiếu niên qua những bài Thằng Cuội, Tuổi Thơ... Bài Bà Tư Bán Hàng và
bài Học Sinh Hành Khúc phổ biến đến độ có những câu nhại... tôi vẫn quan
niệm bài hát nào có lời ca nhại là bài hát thành công nhất. Tôi cũng cho
rằng trong làng tân nhạc, Lê Thương là người trí thức nhất. Mỗi bài
nhạc, mỗi giai đoạn nhạc của anh đều chứa đựng thông điệp".
Nhìn lại toàn bộ nhạc phẩm của Lê Thương, bao gồm hầu hết mọi thể
điệu. Bên cạnh nhiều nhạc phẩm về thiếu nhi rất quen thuộc, nhạc châm
biếm, những bài thơ được phổ thành ca khúc như Bông Hoa Rừng, Tiếng Thùy
Dương, Người Chơi Độc Huyền... cùng nhiếu ca khúc với tình tự quê hương,
dân tộc được trải dài suốt nửa thế kỷ là công trình đóng góp thật quý
giá.
Lê Thương thích tham gia vào kịch nghệ, cuối thập niên 30 với ban
kịch Thế Lữ. Khi vào Sài Gòn, tham gia vào ban kịch Sầm Giang của Trần
Văn Trạch, sáng tác nhiều bài hát cho kịch phẩm. Vào thập niên 50 ông
viết nhạc phim cho hãng Mỹ Vân.
Là giáo sư dạy về nhạc sử ở Trường Quốc Gia Âm Nhạc & Kịch Nghệ Sài
Gòn, ông triển khai nền âm nhạc Tây phương để chuyên chở vào nền âm nhạc
Việt Nam để tạo sắc thái đặc biệt. Qua hàng trăm nhạc phẩm đều phản ánh
tâm hồn dân tộc, dòng nhạc bình dị, đơn giản; giai điệu nhẹ nhàng không
cầu kỳ, rắc rối được thể hiện qua tiết tấu. Trên bục giảng, là một nhà
giáo nghiêm nghị nhưng trong giao tiếp, ông là người hòa nhã, tận tình,
lịch sự, từ tốn và hòa nhập với mọi người. Vì vậy, căn nhà của ông trên
đường Bùi Viện trở thành thân quen cho giới nghệ sĩ. Lê Thương còn là
giáo sư Sử Địa, có tài vẽ tay trái, kiến thức rộng và giảng dạy rất lôi
cuốn trong bộ môn khô khan.
Về mặt tình cảm, là nghệ sĩ, Lê Thương cũng phong lưu đa tình nhưng
kín đáo, không ba hoa, khoác lác vì vậy không bị tai tiếng. Người tình
đầu tiên sống với ông là cô đầu hát ả đảo nổi tiếng ở Hà Nội, sống với
nhau nhưng không thành hôn. Người bạn đời trăm năm với ông, gốc Hưng
Yên, ở Pháp về gặp nhau tại Sài Gòn, sống với nhau được 3 người con mới
làm giấy hôn thú, tiếp tục hành trình, có tất cả 9 người con. Người bạn
đời của nhạc sĩ "là người bình dân, mộc mạc, không bao giờ nhảy sổ vào
công việc của chồng, suốt đời lẳng lặng trông nom săn sóc chồng con"
(Phạm Duy). Tuy nhiên, mối tình của Lê Thương với vũ sư Năm Ngọc ở chợ
Vườn Chuối thời Lê Thương làm việc ở Trung tâm Học Liệu, tuy kín đáo
nhưng bị lọt vào mắt mấy tay cầm bút.
Sau tháng 4-75, Lê Thương kẹt lại ở quê nhà, không còn cơ hội thuận
lợi tham gia trong sinh hoạt nghệ thuật. Bước vào đầu thập niên 90 tinh
thần và thể xác suy yếu. Cuộc sống gia đình càng thêm khó khăn, may mắn
được sự giúp đỡ của vài nghệ sĩ quý trọng ông. Vào giữa thập niên 90,
ông hoàn toàn mất trí. Trong khi hàng triệu người ở quê nhà và hải ngoại
đón tết Trung Thu, tác giả Thằng Cuội nhắm mắt lìa đời ngày 17-9-1996,
hưởng thọ 83 tuổi. Lê Thương trở về với cát bụi, theo "Gió không có nhà,
gió bay muôn phương, biền biệt chẳng ngừng trên trời nước Nam..."
Hơn nửa thế kỷ đóng góp cho âm nhạc Việt Nam, Lê Thương sáng tác hàng
trăm tác phẩm, nhiều ca khúc khai sinh cho nền âm nhạc Việt Nam tuy đánh
dấu cái mốc lớn lao trong lịch sử tân nhạc nhưng thời gian rồi sẽ phôi
phai như nhiều ca khúc khác cùng thời của ông. Thế nhưng, ngày nào còn
nhắc đến hình ảnh Hòn Vọng Phu, ngày đó tên tuổi Lê Thương vẫn còn bay
lượn giữa muôn nghìn âm thanh bồng bềnh trong tâm thức.