Trong thời kỳ Nam Bắc Triều ở Trung Hoa (420-589), Bắc Triều có năm
triều đại: Bắc Ngụy (386-534), Đông Ngụy ( 534-550), Tây Ngụy (535-557),
Bắc Tề (550-577) và Bắc Chu (557-581); Nam Triều gồm bốn triều đại: Tống
(420-479), Tề (479-502), Lương (502-557) và Trần (557-589) đều đóng đô
tại Kiến Khang (Nam Kinh) thống trị toàn miền Nam Trung Hoa.
Sau khi loại Tề, lập nên triều đại nhà Lương, Vũ Đế (520-550) muốn tạo
dựng thế lực hùng hậu nên âm mưu, tranh giành quyền lợi ở biên cương và
tiếp tục con đường thôn tính ở phương Nam.
Nhà Lương cử “Tiêu Tư sang làm Thứ Sử đất Giao Châu. Tiêu Tư là một
người tàn bạo, làm cho lòng người ai cũng oán giận” (Trần Trọng Kim -
Việt Nam Sử Lược). “Bấy giờ Thứ Sử Tiêu Tư cai trị đất Giao Châu cũng đi
theo vết xe đổ của bọn Tô Định, Lục Dận, Lữ Đại; nhân dân đất Giao Châu
thấy ngột ngạt vì cái không khí nội chiến, ngoại xâm...” (Phạm Van Sơn –
Việt Sử Toàn Thư).
Lợi dụng tình thế tranh giành ảnh hưởng triều đại ở Trung Hoa, nước Lâm
Ấp cho quân sĩ tràn sang Giao Chau để cướp phá và quấy nhiễu.
Theo “Việt Sử Tiêu Án” của Ngô Thời Sỹ (1726-1780): “Nước Lâm Ấp vốn là
đất Tượng Quận của Tần, phái Đông là Biển, phía Tây giáp nước Qua Oa,
phía Nam thông với nước Chân Lạp, phía Bắc tiếp giáp Hoan Châu nước ta”.
Trong giai đoạn đó, người dân Giao Châu vừa chịu sự lệ thuộc của phương
Bắc vừa bị bất an ở phương Nam nên dân tình vô cùng khốn đốn.
Trước nỗi thống khổ của dân tộc dưới ách thống trị hà khắc, năm Tân Dậu
(541), có bậc anh hùng, tài kiêm văn võ tên là Lý Bôn, nổi dậy chống trả
ngoại xâm.
Lý Bôn, còn có tên gọi là Lý Bí, tổ tiên người Trung Hoa, chạy sang Giao
Châu lánh nạn đã bảy đời, trở thành người bản xứ ở Thái Bình (nay thuộc
vùng tiếp giáp giữa huyện Thạch Thất và thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây).
Lý Bôn sinh ngày 12 tháng 9 năm Quý Mùi (17-10-503), thân phụ là Lý
Toản, trưởng bộ lạc, mẹ là Lê Thị Oánh, người Ái Châu (Thanh Hóa). Mồ
côi cha mẹ sớm, được vị thiền sư đem về chùa Linh Bảo nuôi dạy cho đến
khi trưởng thành.
Rời chốn thiền môn, lý Bôn đảm nhận chức Giám Quân (trông coi quân sĩ) ở
Cửu Đức, Đức Châu ( nay là Đức Thọ, Hà Tĩnh); vì thấm nhuần lòng từ bi
của Phật Giáo, thấy chính sách cai trị đầy tham ô, tàn ác nên từ chức về
quê ở huyện Thái bình, Phong Châu chiêu tập anh hùng hào kiệt, nghĩa
binh để nổi dậy chống ách thống trị của quân Lương.
Lý Bôn kết hợp cùng tù trưởng Châu Diên là Triệu Túc, cùng với Tinh
Thiều, Phạm Tu, Trương Húc, Trương Hán... Võ sư Phạm Tu, tuổi đã gần
thất thập liền hưởng ứng, kêu gọi dân làng, chiêu tập nghĩa quân theo
ngọn cờ khởi nghĩa của Lý Bôn. Tinh Triều, gia đình giàu có, giỏi văn
chương, làm chức quan Lang ở Quảng Dương môn, bất bình với chế độ, lui
về quê, được tin khởi nghĩa, liền tham gia.
Tháng Giêng năm Nhâm Tuất (542), Lý Bôn khởi binh chống quân nhà Lương.
Trong thời gian ngắn, chiếm giữ được thành Long Biên, Thứ Sử Giao Châu
là Tiêu Tư trốn chạy về nước.
Đầu năm Quý Hợi (543), vua nhà Lương cử tướng Lư Tử Hùng đem quân sang
trấn áp; được tin, Lý Bôn đem quân sang nghinh chiến đấu ở Hợp Phố
(Quảng Đông), quân Lương bại trận, rút lui về nước. Trong khi đó, quân
Lâm Ấp lợi dụng loạn lạc, lại tràn sang quấy phá, Lý Bôn cử tướng Phạm
Tu đem quân tiêu diệt ở Nhật Nam và Cửu Đức, quân Lâm Ấp thua trận, mang
tàn binh bỏ chạy.
Vào dịp Nguyên Đán năm Giáp Tý (Tháng 2-544), sau khi loại trừ được
ngoại xâm, Lý Bôn lên ngôi, xưng là Nam Việt Đế, niên hiệu Thiên Đức,
lấy quốc hiệu là Vạn Xuân, đặt kinh đô ở cửa sông Tô Lịch (Hà Nội). Lý
Nam Đế thiết lập triều chính, Phạm Tu coi về võ quan, Tinh Thiều đứng
đầu quan văn, Triệu Túc làm Thái Phó; đó là ba chức quan đứng đầu trong
triều đình. Con trai của Triệu Túc là Triệu Quang Phục, được xem là
tướng trẻ, tài ba và dũng lược.
Lý Nam Đế cho xây dựng chùa Khai Quốc ở Yên Hoa, Yên Phụ (nay là chùa
Trấn Quốc ở Hồ Tây, Hà Nội)
Nam Ất Sửu (545), vua nhà Lương cử Dương Phiên sang làm Thứ Sử Giao Châu
rồi sai Trần Bá Tiên làm Tư Mã, phối hợp Tiêu Bột và Dương Siêu, thống
lĩnh đạo quân sang đánh nước ta.
Lý Nam Đế đem ba vạn quân đương đầu với đại quân nhà Lương ở Chu Diên
(Hải Hưng), thua trận, lui về cửa sông Tô Lịch cầm cự, nơi đây lão tướng
Phạm Tu đã hy sinh, Lý Nam Đế đem quân về giữ thành thành Gia Ninh (nay
là Việt Trì, Phú Thọ), đại quân Trần Bá Tiên đem quân tiến đánh, Lý Nam
Đế phải lui về giữ thành Tân Xương ở Phong Châu. Sau đó, Lý Nam Đế rút
quân về đóng ở động Khuất Liêu (Phú Thọ), nơi đây, nhà vua khôi phục lại
binh mã để cầm cự với quân của Trần Bá Tiên.
Sau thời gian chiến đấu, xông pha chiến trận, vì sức khỏe Lý Nam Đế bị
yếu kém nên giao quyền bính lại cho Tả tướng quân là Triệu Quang Phục để
điều binh khiển tướng.
Lý Nam Đế mất ngày 20 tháng 3 năm Mậu Thìn (13-4-548). Hưởng dương 46
tuổi. Triệu Quang Phục lên ngôi vua, xưng là Triệu Việt Vương.
Trong thời gian Lý Nam Đế thất thế lui quân về Khuất Lão thì người anh
họ là Lý Thiên Bảo cùng với người cháu họ là Lý Phật tử đem quân chạy
vào Cửu Chân, bị quân nhà Lương đánh đuổi chạy sang Lào, đầu nguồn sông
Đào Giang, có động Dã Năng, đóng ở đó xưng là Đào Lang Vương, lấy quốc
hiệu là Dã Năng.
Năm Ất Hợi (555) Lý Thiên Bảo mất, không có con nên nên quyền bính về Lý
Phật Tử. Sau nầy Lý Phật Tử dùng thủ đoạn để lật Triệu Quang Phục, dựng
lại cơ nghiệp Hậu Lý Nam Đế (571-602) nhưng rồi thần phục nhà Tùy ở
Trung Hoa.
Nước ta rơi vào thời kỳ Bắc thuộc lần thứ ba (603-939)!
Sách “Việt Sử Tiêu Án” luận rằng: “Có ba vạn quân đều sức nhau, thiên hạ
khó ai địch được. Nay Lý Bảo, Lý Bí có có quân đến năm vạn người mà
không giữ được nước, có phải kém tài đâu, không may gặp phải Bá Tiên là
người khéo dụng binh...” Và đây cũng là bài học quý giá cho lịch sử cho
hậu thế bởi sự thiếu đoàn kết với nhau, Lý Thiên Bảo muốn tạo dựng cơ
nghiệp riêng, không chung vai sát cánh với người em để tiêu trừ quân thù
nên thế lực bị suy yếu trước sức mạnh của đối phương.
Lý Nam Đế nổi dậy chống ách thống trị của nhà Lương, dựng nên cơ nghiệp
nhà Tiền Lý, tuy chỉ trong thời gian ngắn nhưng đã thể hiện chí khí quật
cường, nổi dậy đánh đuổi quân giặc.
Để tưởng nhớ bậc tiền nhân, có hàng trăm ngôi đền, miếu thờ Lý Nam Đế và
các tướng quân ở miền Bắc.
Ghi lại hình ảnh của Lý Nam Đế, sách “Khâm Định Việt Sư”û nhận xét: “Tuy
Lý Nam Đế không đủ sức chống chọi với giặc mạnh, việc lớn không thành,
nhưng thừa thế dấy binh, tự xưng làm vua, mở đường tự chủ cho nhà Đinh,
nhà Hậu Lý về sau nầy, há chẳng phải là vẻ vang to tác lắm sao”.
Trong “Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca” đã ghi:
“Kể từ Ngô Tấn lại đây
Hai trăm mười bốn nam chày cát phân
Cỏ cây han chứa bụi trần,
Thái bình mới có Lý Phần hưng vương,
Vốn xưa nhập sĩ nước Lương,
Binh qua gặp lúc phân vương lại về
Cừu dân đã quyết lời thề
Văn thần, võ tướng ứng kỳ đều ra
Tiêu Tư nghe gió chạy xa
Đông Tây muôn dặm quan hà quét thanh
Vạn Xuân mới đặt quốc danh
Cải nguyên Thiên Đức, đô thành Long Biên...”
Trải qua năm thế kỷ đất nước bị lệ thuộc,
từ Trưng Nữ Vương, Triệu Nữ Vương đến Lý Nam Đế có nhiều cuộc nổi dậy
nhưng chỉ thu hẹp địa phương, chưa tạo dựng được ảnh hưởng rộng lớn,
chưa đánh bật được thế mạnh của ngoại xâm nên suốt thời gian dài đó,
trang sử nước nhà chỉ để lại ít hình ảnh tiêu biểu nêu trên.
Vương Trùng Dương