
Sau ngọn cờ khởi nghĩa của Trung Nữ Vương (40-43), trải qua hai thế kỷ
nước ta bị chìm đắm trong thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai, từ Đông Hán đến
thời kỳ Tam Quốc ở Trung Hoa có Ngụy (220-265), Thục Hán (221-263) và
Đông Ngô (222-280); nước ta lệ thuộc dưới sự thống trị của Đông Ngô, dân
tình vô cùng khổ sở, lầm than.
Về quốc hiệu, theo dòng thời gian, nước ta về đời Hồng Bàng gọi là Văn
Lang, đời Thục An Dương Vương gọi là Âu Lạc. Vào giai đoạn Tiền Hán và
Hậu Hán ở Trung Hoa thì đời Triệu Vũ Vương (207-137 trước Tây Lịch) đến
năm 111 trước Tây Lịch gọi là Nam Việt, năm 111 trước Tây Lịch đến năm
203 sau Tây Lịch gọi là Giao Chỉ.
Năm Quý Mùi (203) Thái Thú Sỹ Nhiếp và
Thứ Sử Trương Tân dâng sớ xin vua Hiến Đế đổi tên Giao Chỉ thành Giao
Châu và kéo dài cho đến đời Lý Nam Đế (544—548)... Về đất đai, bởi sự
thay đổi liên tục do việc phân chia và sát nhập của Trung Hoa. Khi Triệu
Đà được Lưu Bang (Hán Cao Tổ 206-194 trước Tây Lịch) phong làm Nam Việt
Vương, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Đông), chia nước Âu Lạc ra làm hai
quận: Giao Chỉ và Cửu Chân. Vào thời Hán Vũ Đế (140-87 trước Tây Lịch),
Nam Việt bị nhà Hán chiếm luôn, đổi thành Giao Chỉ bộ. Giao Chỉ bộ gồm
chín quận, có sáu quận thuộc vùng Quảng Đông, Quảng Tây và ba quận thuộc
về nước ta hiện nay là quận Giao Chỉ (Bắc Việt), quận Cửu Chân (Thanh
hóa, Nghệ An) và quận Nhật Nam (từ Hoành Sơn đến đèo Hải Vân). Giao Chỉ
bộ đặt dưới quyền cai trị của quan Thứ Sử, mỗi quận dưới quyền cai trị
của quan Thái Thú... tất cả đều do triều đình ở Trung Hoa bổ nhậm.
Năm 226 Sỹ Nhiếp qua đời, lợi dụng thời kỳ còn tranh giành quyền thế ở
Trung Hoa, con trai Sỹ Nhiếp là Sỹ Huy lộng hành, tự động lên thay quyền
Thái Thú. Ngô Đại Đế ổn định xong tình thế, chia đất Giao Châu từ Hợp
Phố về Bắc đặt tên là Quảng Châu, cử Lữ Đại làm Thứ Sử; từ Hợp Phố vào
Nam gọi là Giao Châu, cử Đái Lương làm Thứ Sử. Riêng đất Giao Chỉ về
miền Bắc Việt bấy cử Trần Thì thay Sỹ Huy làm Thái Thú. Trong giai đoạn
đó còn có sự sát nhập, thay đổi đất đai nên danh xưng dễ bị nhầm lẫn.
Sỹ Huy chống lại việc bổ nhiệm của triều đình Đông Ngô nhưng trước thế
mạnh của binh lực nên quy thuận, Sỹ Huy bị bắt và chém đầu với tội
nghịch thần. Đông Ngô áp dụng chế độ trực trị như Đông Hán nên quan quân
ác độc hoành hành. Dưới chính sách cai trị thật hà khắc, người dân phải
gánh chịu bao cảnh điêu linh, khốn khổ.
Bấy giờ, ở quận Cửu Chân (vùng Nông Cống, Thanh Hóa hiện nay) có vị nữ
lưu tên là Triệu Thị Trinh, còn gọi là Triệu Nguyên, sinh ngày 2 tháng
10 năm Ất Tỵ (225), cha mẹ mất sớm nên ở với người anh là Triệu Quốc
Đạt, một hào trưởng ở miền núi Quảng Yên, Cửu Chân.
Dù mồ côi cha mẹ nhưng ảnh hưởng hình ảnh vị hào trưởng tiếng tăm lừng
lẫy trong vùng nên anh em được luyện tập các môn võ nghệ của nhiều võ sư
chân truyền.
Triệu Thị Trinh thể hiện thiên tướng con nhà võ, tinh thông
cách bày binh bố trận và tài sử dụng cung kiếm, làm cho đấng mày râu
cũng phải kính nể. Vào tuổi đôi mươi, Triệu Thị Trinh là người có sức
khỏe, giỏi võ nghệ, tính cương cường, gan dạ và mưu trí.
Triệu Quốc Đạt rất hào khí, có đức độ và có tài thao lược, được mọi
người nể trọng. Ông có tinh thần yêu nước và có ý chí khôi phục giang
sơn, được bốn người bạn tâm phúc là Vương Thiện, Lãnh Long, Bao Thúc và
Tốn Thận, có tài đức vẹn toàn nên muốn phất cờ chống trả ngoại xâm.
Triệu Quốc Đạt bất mãn chính sách cai trị bạo tàn của nhà Đông Ngô nên
âm thầm tập hợp nghĩa quân, lập căn cứ Phú Điền (Hậu Lộc - Thanh Hóa).
Đấy là một thung lũng giữa hai núi đá vôi, vừa gần biển lại vừa là cửa
ngõ từ đồng bằng phía bắc vào.
Triệu Thị Trinh muốn tham gia dưới bóng cờ của anh nhưng người anh có ý
can ngăn, lo phận gái khó đảm đương trọng trách. Thời gian anh em ở với
nhau, gặp người chị dâu là Giang Thị vô cùng cay nghiệt, luôn luôn bất
hòa với Triệu Thị Trinh. Thấy em gái đã trưởng thành, người anh muốn cho
em lập gia đình để có đời sống riêng tư nhưng bà không muốn bị ràng buộc
trong cuộc sống khi mọi người trong nỗi thống khổ. Bà trả lời:
Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá tràng kình ở biển
Đông, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối,
chứ không thèm cúi đầu, còng lưng để làm tì thiếp người ta.
Khi Triệu Thị Trinh phát hiện được Giang Thị gởi thư cho Thứ Sửù Cửu
Chân báo rằng anh em Triệu Quốc Đạt có âm mưu triệu tập lực lượng khởi
loạn. Giang Thị muốn lập công và xin tha thứ cho chồng... Triệu Thị
Trinh giết người chị dâu nối giáo cho giặc, phản chồng, hại em, rồi vào
ở trong núi, chiêu mộ hơn một nghìn nghĩa binh, tạo được uy danh, lấy
đồi An Phổ để phất cờ khởi binh.
Năm Mậu Thìn (248), Triệu Quốc Đạt cùng Triệu Thị Trinh, mỗi người một
nơi, đồng lúc khởi binh đánh quân Đông Ngô. Thể hiện tính quật cường của
bậc nữ lưu, bà tỏ ra can đảm phi thường, cầm quân thật tài giỏi nên tôn
bà làm chủ tướng. Bà xuất quân đánh thành Nông Cống, hình ảnh Triệu Thị
Trinh “Đầu chít khăn lam, mình mặc áo võ trang màu biếc, tay cầm bảo
kiếm, tay cầm cờ lệnh, hùng dũng lạ thường...” ngồi trên mình voi, xưng
là Nhụy Kiều Tướng Quân, thống lĩnh quân sĩ xông pha chiến trận.
Trong thời điểm chiến trận sôi sục, Triệu Quốc Đạt hy sinh đền nợ nước;
thay Triệu Quốc Đạt, bà tập hợp quần hùng, tiếp tục chiến đấu với quân
Đông Ngô. Từ đó, đánh tới đâu quân giặc tan tành tới đó, nhiều thành trì
bị hạ. Trong thời gian ngắn đã chiếm giữ được quân Cửu Chân, quân Đông
Ngô khiếp sợ, tôn xưng là Lệ Hải Bà Vương. Thứ Sử Châu Giao hoảng sợ bỏ
chạy mất tích. Sử sách của nhà Ngô phải thú nhận: "Tòan thể Châu Giao
chấn động".
Quân Đông Ngô kiếp đởm, kinh hồn, bạt vía đã phải thốt lên:
Hòanh qua đương hổ dị
Đối diện Bà Vương nan
Nghĩa là:
Vung giáo chống hổ dễ
Giáp mặt Bà Vua khó
Truyền thuyết cho rằng Bà Triệu thu phục con voi trắng một ngà với lời
rao truyền trên núi Quan Yên để thu phục mọi người:
“Có Bà Triệu tướng
Vâng lệnh trời ra
Trị voi một ngà
Dựng cờ mở nước
Lệnh truyền sau trước
Theo gót Trưng Vương....
Hay tin cuộc khởi nghĩa ở Cửu Chân và Thứ Sử Châu Giao mất tích, vua
Đông Ngô tức giận phái ngay Lục Dận, Đốc quân Đô úy Hành Dương là sang
làm Thứ Sử Giao Châu, kiêm chức Hiệu Úy. Tăng cường binh mã tiếp viện
ùn ùn kéo sang. Một tướng từng trải với trận mạc, lại rất quỷ quyệt sang
làm Thứ Sử. Lục Dận đem 8.000 quân tinh nhuệ sang đàn áp. Lục Dận vừa
đánh vừa đem của cải, chức tước ra dụ dỗ mua chuộc phần tử ham danh ham
lợi. Triệu Thị Trinh vẫn kiên cường đánh nhau với giặc không hề nao
núng.
Sau 6 tháng chống chọi, vì quân ít thế cô, có kẻ phản bội thông báo tin
tức cho quân Ngô, Triệu Nữ Vương đem quân về Bồ Điền (nay là mỹ Điến, Mỹ
Hóa, Thanh Hóa) rồi tự sát trên núi Tùng ở Hậu Lộc, Thanh Hóa. Bấy giờ
bà mới 23 tuổi. Bậc Nữ Vương hy sinh lúc còn trinh trắng nên còn gọi là
Triệu Trinh Vương.
Sau khi Triệu Nữ Vương mất, năm Giáp Thân (264) vua nhà Ngô lấy đất Hợp
Phố, Cửu Chân và Nhật Nam làm Giao Châu, đóng đô ở Long Biên.
Triệu Nữ Vương mất đi, để lại tấm gương rạng rỡ bậc anh thư kiệt liệt,
tiếng thơm còn mãi muôn đời.
Về sau, vua Lý Nam Đế khen ngợi bà là ngời trung dũng, sai lập miếu thờ,
phong là: "Bật chính anh liệt hùng tài trinh nhất phu nhân". Trong “Hồng
Đức Quốc Âm Thi Tập” có bài thơ ca ngợi công lao của Triệu Nữ Vương:
“Cao một trượng, cả mười vừng
Bỏ tóc ngang lưng, vú chấm sừng
Họp chứng rừng xanh, oai náo nức
Cưỡi đầu voi trắng, tiếng vang lừng
Mác dài trỏ vãy, tan tành giặc
Ngôi cả lăm le, học họ Trưng.
Ví có anh duyên định mấy
Thời chi Đông Hán dám lung lăng”.
Trong “Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca” có những dòng thơ đề cập đến hình ảnh
của bà:
“Đầu voi phất ngọn cờ vàng
Sơn thôn mấy cõi, chiến trường xông pha
Chông gai một cuộc quan hà
Dù khi chiến tử còn là hiển linh"
Nay ở Phú Điền còn có đền thờ bà.
Cũng như Mã Viện áp dụng chính sách bạo tàn sau cuộc khởi nghĩa của
Trưng Nữ Vương, lập trụ đồng để đe dọa; Lục Dận nham hiểm, sai người trừ
yểm để tránh hậu họa xảy ra. Người Tàu căm giận nên đặt tên là Triệu Ẩu,
chữ Ẩu có nghĩa là mụ nhưng sử sách vẫn đề câp tính gan lì của bậc nữ
lưu. Hình ảnh bậc nữ lưu “vú dài ba thước” đều do sử sách Trung Hoa dựng
nên để phác họa chân dung dị tướng và hoang đường... vô hình chung lại
ghi vào trang sử nước ta.
Nhìn lại trang sử nước nhà, từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ ba, đất
nước có các bậc nữ lưu nổi dậy, phất cao ngọn cờ chính nghĩa, xưng
Vương, kiên cường chống trả quân xâm lược đang thống trị với chính sách
bạo tàn. Khởi đầu cho kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam với
hình ảnh bậc anh thư liệt nữ phất cờ khởi nghĩa, cầm gươm xông pha nơi
chiến trận, tuy ngắn ngủi nhưng để lại trang sử hào hùng cho dân tộc.
Vương Trùng Dương