|
Mùa Xuân nói chuyện Trà
Qua tài liệu dẫn chứng hơn 6000 năm, Hoàng đế Thần Nông (Shin
Nung) người Trung Hoa đầu tiên phát hiện ra trà uống bổ khỏe, mãi cho đến
Hippokartes (460-370 V. Chir) cũng công nhận trà có dược tính tốt. Như
vậy nguồn gốc trà có thể tìm thấy đầu tiên tại Trung Hoa.
Thời Nữ hoàng Âu Châu Hildegard von Bingen (1098-1179) đã công nhận
các loại trà giúp chửa bệnh và được nghiên cứu
rộng rãi trong giới Y khoa.
Ngoài ra có thêm huyền thoại về trà được nhắc lại, thuở xa xưa Hoàng Tử con vua Bodhidharma Ấn Ðộ lúc ngồi thiền hay buồn
ngủ, Hoàng tử giận cắt mí mắt ném xuống đất và từ chổ đó mọc lên cây
trà? (tồn ghi)
Trà tại Á Châu
Trà thường trồng các vùng đồi núi quanh Hàng Châu (Hangzhou) Trung
Hoa, các vùng nổi tiếng là Ling Ching và Lung Ding (Trà Long Tỉnh), ngoài ra
còn có vùng bảy núi ở Xishuangbanna (thuộc tỉnh Vân Nam) trồng trà từ triều đại
Ðường (Tang, 618-907) nhưng mãi đến triều đại Thanh (Qing, 1644) trà được đưa vào việc sản
xuất. Hiện nay còn loại trà cây cổ thụ từ năm 1700 qua các đời
Khang Hy (Shengzu-Kangxi), vùng nầy trồng loại trà Pu-Erth lá dày. Nước trà màu
hơi đỏ, được xem như một vũ khí tuyệt vời uống để chống lại bệnh có mở
trong máu (wunderwaffe gegen fett).
Ở Ấn Ðộ vùng núi Darjeeling cách xa Kalutta 600 km
trồng các giống trà "Thea Chinensia" được công ty Ðông Ấn "East India
Company hoạt động từ năm 1600-1857" lai giống các loại trà năm 1823 tại
Assam thành công, thêm loại "Thea assimica"
Ấn Ðộ trồng hơn 400 loại trà khác nhau, trà nổi tiếng
thơm ngon quanh vùng Himalaya trên cao độ 2200 m, các vườn trà trong
vùng thung lũng "Steintal" và "Happy Vallytea Estate"
Assam là vùng cao nguyên trên thượng lưu Brahmaputra,
có 2000 vườn trà được lai giống khác nhau. Hiện nay xuất cảng trà đứng
đầu thế giới là Ấn Ðộ sau là Tích Lan (Sri lanka) .Giống trà Thea
assmica, được người Anh ông Schotte James Taylor mang vào Tích Lan năm
1849, sau 11 năm phát triển trồng trên cao nguyên Ceylon và Tamilen.
Tại Việt Nam theo sách An Nam
Chí Lược ghi "vào tháng 5, năm thứ tám niên hiệu Khai Bảo. Ðinh Liễn có
tiến cống nhà Tống vàng, lụa, sừng tê, ngà voi và trà thơm" Theo các tài
liệu trên chứng tỏ người Việt đã biết uống và biến chế trà từ lâu. Ngành
khảo cổ đã khai quật tại vùng Nông Giang Thanh Hóa tìm thấy được nhiều
chén trà, dĩa trà thời gian nầy ngang với đời Tống (Song, 960-1279)
Theo Nguyễn Trải ở Dư Ðịa Chí, đã kể đến trà Tước
Thiệt (trà lưởi chim sẻ) người ta gọi là trà móc câu thuộc giống trà mi
ở vùng Sa Bôi nay là tỉnh Quảng Trị (ngày xưa thuộc Châu Ô, Châu Lý).
Người Việt Nam có nghệ thuật ướp trà và uống trà.
Có rất nhiều giống trà trồng hợp với khí hậu điạ
phương, các nơi trồng trà nổi tiếng như: Phú Thọ, Hoà Bình, Nghệ An,
Thái Nguyên, Lai Châu. Cao nguyên Bảo Lộc Lâm Ðồng có loại trà mi, hải
đường. Có hoa nhỏ thơm dịu, nụ nhỏ, trà ngày nay theo nhu cầu kỷ nghệ
sản xuất lai nhiều giống, có 3000 loại trà mi khác nhau trên thế giới.
Theo nghiên cứu các nhà khoa học, trà phát sinh từ 3 loại chính của
Ðài Loan và Nhật Bản đó là Camellia Japonica, Camellia sasanqua, và
Camellia reticulata. Có thể đất nước Việt Nam trải qua chiến tranh, bế
môn tỏa cảng..Không được các chuyên gia ngoại quốc đến nghiên cứu, hay
trước đó trong thời bị lệ thuộc các giống trà từ Việt Nam
bị lấy đi ?
Trà mi có tên khoa học Camellia chrysantha trong thời
gian gần đây người Pháp tìm ra trà mi giống Việt Nam và được nhắc đến
trà mi hoa vàng tên Camellia vietnamensis ở Cúc Phương, đẹp hơn trà mi
hoa vàng gốc Nhật, hoa ít hơn. loại Camellia baviensis ở núi Ba Vì hương
thơm nồng nàn. Trà mi Camellia baviensis đem về trồng thí nghiệm ở đại
học Lâm nghiệp Xuân Mai Hà Tây. Hoa lưởng tính cánh trắng nhụy vàng to
nở lâu tàn.
Trà vào Nhật Bản thế kỷ thứ 6 Hoà Thượng Huimeng
(638-713) truyền Phật Giáo từ Trung Hoa sang Ðại Hàn vào Nhật Bản và
phát triển mạnh trong thời Nara Zeit (710-94). Trà du nhập vào cùng giai
đoạn trên, nhưng đến thời Hoàng Ðế Shômu thế kỷ thứ 8 trà dùng phổ thông
hơn. Kế tiếp qua nhiều triều đại văn hóa phát triển. Thượng phụ Murato
Shuko (1422-1502) bìến chế trà xanh (Matcha) thường dùng trong các Chùa
và các Hiệp sĩ đạo/Samurai. Ðến đời sư phụ Sen-No Rikyu (1522-1591) được
nâng lên một nghệ thuật, trở thành nghi thức uống trà (Tea ceremony/
Chanoyu) khởi đầu tại Daitoku-Ji-Tempel
Các nước Thái Lan, Lào, Java ở Indonesia, Malaysia… cũng trồng trà,
nhưng mỗi quốc gia đều có phương pháp trồng trà riêng.
Trà nhập Âu Châu
Năm 1610 người Hòa Lan mang trà từ Trung Hoa về Âu
Châu. Vua Ludwig XIV, Marquise de pompadour, và Goethe là những người
uống trà xanh. Nữ hoàng Kathrina von Bragaza (1638-1705) con vua Johanns
IV Bồ Ðồ Nha (Portugal) cùng đoàn tùy tùng đến Anh Quốc làm lễ thành hôn
năm 1665, dâng lễ vật quà cưới đến vua Charle II (1660-1685) trong đó có
nửa kilô trà. Chứng tỏ trà lúc đó rất quý đối với giới quý tộc Âu Châu.
Các quốc gia Ấn Ðộ, Tích Lan bị Anh quốc chiếm làm
thuộc địa, cách đây 150 năm các thương gia Anh nhập trà về các bờ biển
Cornwall, Dorset, Kent chở về cho 2000 đại lý ở London độc quyền bán trà
đen tại Âu Châu .
Nhưng đến cuối thế kỷ 19 trà xanh tràng ngập thị
trường Âu Châu, nhờ phương tiện lưu thông tiến bộ, thời gian chuyên chở
làm cho trà xanh không mất phẩm chất .
Trà nhập Âu Châu bằng đường thủy, trong thời gian nầy
những đoàn lữ hành, vượt sa mạc dùng lạc đà chuyên chở trà từ Trung Hoa, Ấn Ðộ đến bán cho Nga sô.
Trà đến Mỹ Châu
Năm 1650 thương thuyền người Hòa Lan nhập trà vào New
York, thời ấy gọi là Amsterdam mới (new Amsterdam) và trên đường Chatham
có nguồn nước ngọt, vào buổi sáng người đàn ông rung chiếc chuông nhỏ
rao bán nước "come and get your tea-water!". Các Tổng thống Hoa kỳ:
Lincoln, Roosevelt, Hoover, Kennedy đều uống trà.
Nhà nhập cảng trà ông Sullivan tại New York, có sáng
kiến bỏ trà vào một túi nhỏ bằng lụa cho mỗi tách trà, quảng cáo gởi
khách hàng uống thử. Từ sáng kiến đó ngày nay người ta biến chế trà
trong những túi nhỏ. Người Mỹ có thói quen uống trà xanh nhập cảng từ
Trung Hoa. Năm 1904 người Anh Richard Blechynden đến St. Louis trong hội
chợ triển lãm về trà. Ông ta quảng cáo trà đen Ấn Ðộ vì thời tiết nóng,
uống trà nóng ra mồ hôi khó chịu, ông bỏ nước đá vào ly trà, uống mùi vị
thơm ngon và mát, từ đó mở đầu cho giai đoạn mới, uống trà với nước đá
"ice tea ".
Sản xuất trà đi qua các giai đọan căn bản, hái để lá
héo, hấp nước hay sấy qua, đập hay chà phơi khô sàng lọc.. Trà đen hay
trà xanh cũng đều biến chế từ các loại trà cây có tên khoa học :
Camillia Sinensis và Camillia Assamica
Trà xanh (green tea) người Trung Hoa bỏ lá trà
xanh (luchà) vào chảo gang nóng, rang sơ qua sau đó trộn bằng tay. Ngược
lại người Nhật bỏ lá trà vào hấp nhanh khoảng một vài phút, hai phương
pháp trên đều có mục đích khử các kháng độc tố, giữ cho trà có màu xanh,
mùi thơm ngon
Trà đen (black tea) Người Trung Hoa biến chế trà
đen (hongchà) ủ lá trà lên men. Sấy ướp các hương vị như hoa lài.. có
mùi thơm. Người Nhật hấp nước, ủ lá trà lên men, ướp... trước khi phơi
khô, lá được cán hay chà nhỏ. Đóng hợp, hay gói loại giấy có thể giữ muì
thơm. Trong tiến trình ủ trà lên men tạo phản ứng hóa học khử được độc
tố không mất lượng Coffein trong lá, giữ được mùi hương nhưng trà có màu
đen
Trà Ô Long (Oolong) được
sao chế dung hòa giữa trà đen và trà xanh lá ủ lên men màu đen, nhưng
nước trà màu hơi ngà ngà
Các nước Âu Châu không thể trồng các giống trà từ Á
Châu, nhưng họ nghiên cứu, phát triển chế biến từ : hoa quả, lá thảo mộc
có dược tính sao chế thành trà uống để trị bệnh. Tại Việt Nam cũng biến
chế các loại trà: khổ qua, trà sâm, Hà thủ ô...
Trà có mùi vị thơm ngon, do bí quyết của người biến
chế, có thêm các mùi hương như các loại trà ướp : hoa lài, sen, cam,
bưởi, quế vv..
Hái trà vào buổi sáng, không khí ban mai tinh khiết
cái hương của sương còn đọng trên cành lá, thì hương vị của trà thêm
ngào ngạt bởi vì khí âm và khí dương hòa nhau thành sương là tinh anh
của trời đất . Hái trà qua từng mùa, theo khí hậu thay đổi có mùi vị
phẩm chất khác nhau.
Mùa xuân (first flush) loại trà 1. Mùa hạ
(secondflush) loại trà thứ 2. Trà có phẩm chất cao thường thu hoạch vào
mùa thu (autumnals first and second flush).
Tuy nhiên tùy theo phong thổ, vùng nhiệt đới ở
Himalaya hay các vùng đồi núi ở Trung Hoa độ cao có sương mù, không khí
ẩm, trời mưa nhưng đất khô ráo không làm ướt gốc trà là yếu tố đặc biệt
để trồng các giống trà.
Sự tích được nhắc đến tại Trung Hoa vùng núi cao,
người ta nuôi đàn khỉ được huần luyện mỗi sáng sớm, đàn khỉ trèo lên các
cây trà trên núi cao, còn sương mai hái ngọn trà non, đem về cho chủ
biến chế thành trà thơn ngon và đắc tiền bán tại các tiệm trà có tên
"trà khỉ/ monkey tea”. Thời xưa người ta chọn các trinh nữ, trong những
ngày sạch sẽ hái trà.. nên gọi các trà ấy là "trà Hoa nữ” (tồn ghi).
Nghệ thuật uống trà
Trên khắp năm Châu bốn bể trà được uống hàng ngày,
sáng trưa chiều tối lúc nào cũng có thể uống được. Người Anh có câu tục
ngữ "any time is tea time”. Năm 1840 nữ công tước Bedford tổ chức uống
trà buổi chiều "Afternoontea”, lúc16 giờ uống trà của Ceylon hay
Lap-Souchong ngày nay còn lại phong tục đó. Người Anh và các quốc gia
thuộc điạ của Anh quốc thường có thói quen uống trà với sửa hay đường.
Ông Cecil Rhodes viết tại cung điện Semore Place. Buổi sáng người phục
vụ thường hỏi "Ông muốn uống trà Tàu, Ấn Ðộ hay Ceylon”. Nếu trả lời
dùng trà Ấn thì có câu hỏi kế tiếp " với chanh, sửa hay bơ " ? ở Anh
Quốc cũng thường nói "you enjoy tea and take it easy ".
Người Nhật đã uống trà như một truyền thống thưởng
ngoạn, một nghệ thuật cao quý gọi là "Trà đạo”. uống trà với chén, bình
trà bằng sứ, gáo múc nước phải bằng tre (Chashaku) phong cảnh uống trà
phải thiên nhiên trầm mặc.
Trà xanh ”O-cha” loại Bancha cần nước nóng đun sôi
khoảng 80 độ C, trà Secha/Gyohuro dùng nước sôi khỏang 60 độ. Ngoài ra
còn biến chế các loại trà xanh thành trà bột (Matcha) và các loại trà
uống để chửa bệnh
Hiện nay tại Kyoto có nhiều vườn trà vang bóng của
thời đại Momayama(1568-1600) và các nơi trà đạo hấp dẫn, nhưng khó chịu
khi quỳ gối (seiza) ngồi trên hai bắp chân ! Trà được nhập cảng vào Nhật
biến chế trà đen "Kô-cha”. Tuỳ theo mỗi nhà sản xuất, chất lượng khác
nhau nên giá tiền chênh lệch
Du khách đến Tích Lan, thường mỗi sáng theo phong tục
nữ phục vụ xuất thân người từ miền Nam đảo Tích Lan, mặc y phục trắng
mang trà đến mời "your morning tea Sahib! ".
Người Nga không những uống rượu Wodka, họ cũng biết
thưởng lãm nghệ thuật uống trà. Năm 1638 Hoàng gia Mông Cổ tặng Nga 200
gói trà thơm ngon, Họ dùng nồi nấu trà (Samowar) đốt bằng than (hay điện
ngày nay). Phần thân bình chưá nước, trên nắp để bình trà nhỏ, bỏ trà
chế nước sôi, độ sôi của nồi nước bốc hơi làm nóng bình trà. Khi uống
pha trà ở bình trên với một phần nước sôi. Loại bình Samowar người Thổ
Nhỉ Kỳ cũng dùng để nấu trà đen .
Các loại bình trà bằng sứ được làm qua nhiều thời kỳ
khác nhau. Hơn 2000 năm trước Thiên Chúa, tại Trung Hoa có loại sứ
Yih-Sing làm bằng đất sét vàng. Mãi cho đến triều đại nhà Tống (Song, 960-1279) nghệ thuật thủ công nghệ làm những bình sứ màu trắng, chén,
diã trà tinh xảo hơn.
Các nước Nhật và Ðại Hàn, cũng làm các loại chén bình
bằng sứ trong thời gian trên với người Trung Hoa.(các loại bình, chén,
diã sứ nầy còn lại trong các bảo tàng viện).
Tại Ðức năm (1730-1750) các vùng Bayreuth và Ansbach
có các lò bìến chế chén, tách trà bằng thuỷ tinh, bạc hoặc sứ. (Munich
có lò đồ sứ nhưng chỉ làm ly uống Beer lớn có tay cầm)
Trà
với thi nhân mặc khách
Ông De Quincey bảo "trà luôn luôn là ẩm phẩm
của hạng trí thức” Người Trung Hoa quan niệm "trà là bạn
của ẩn sĩ thanh cao”. Người Việt Nam cũng có nghệ thuật uống trà như
người Trung Hoa. Giới trưởng giả dùng bộ trà trên khay hình chữ nhật hay
hình vuông có chân quì, khắc khảm ốc xa cừ . Chén Quân, chén Tống, bình
pha trà cổ các loại độc ẩm, song ẩm và ẩm quần, của các nhà sản xuất:
Thế Ðức, Lưu Bội, Mạnh Thần.
Pha trà phải chọn nước, để trà tăng thêm hương vị,
nước suối thì tuyệt vời, nước giếng lấy từ mạch nước thiên nhiên, bếp
lửa phải bằng than nhẹ lửa, nước sôi sủi mắt cua, (khoảng 80 độ). tráng
bình trà qua một lần nước nóng, đổ ra trước khi bỏ trà vào châm nước,
(người Trung Hoa đổ ngay lần nước đầu tiên gọi là rửa trà. Muốn có độ
thơm lâu dài, người biến chế trà thường ướp thêm một số lượng nhỏ lưu
huỳnh ? ). Nước máy có nhiều vôi cần phải lọc qua, nấu trà bớt mất muì
vị thơm ngon. Cách pha trà của người Việt và người Trung Hoa, không biến
thành qui tắc nghiêm túc như ở Nhật.
Uống rượu cần nhiều người cho náo nhiệt. Uống trà là
nghệ thuật trong trầm lặng, trà có tính cách đưa người uống vào thế giới
mặc tưởng, bởi thế nên uống trà lúc tinh thần sảng khoái, cảnh vật yên
tĩnh, cần người văn nhã biết cái thú uống trà, bỏ mọi bận rộn đời sống
bon chen, uống từng chén nhỏ, gọi là "ẩm sĩ”. Nếu một vài người uống
chén to, uống một hơi làm sao biết hương vị cuả trà nên bị gọi là "ngưu
sĩ” . Uống trà cũng như pha trà đều cần một nghệ thuật cao. Người Tây
phương họ sành điệu về rượu, beer, cafe.
Thời vua chúa mỗi buổi sáng các cung nữ thường lấy
nước sương còn đọng lại trên lá sen về cung pha trà. Hoặc bơi xuồng trên
các hồ sen (ở Huế nhiều hồ sen) lấy trà bỏ vào các búp sen sắp nở, một
lượng trà hảo hạng, trà hấp thụ mùi thơm của sen dưới sương đêm. Sáng
hôm sau trở lại vạch cánh hoa lấy trà bỏ vào hủ đậy kín không mất mùi
hương, và đó là loại trà sen tuyệt hảo nhất.
Tô Ðông Pha ví trà với mỹ nhân, nhưng Ðiền Nghệ Hằng
lại quan niệm "uống trà để quên cái huyên náo phồn hoa, trà không phải
để cho hạng ăn cao lương bận lượt là thưởng thức”.
Lê Quý Ðôn (1726-1784) quan niện về nghệ thuật uống
trà " Một chén lòng sạch bong, hai chén lòng phơi phới, đến chén thứ bảy
thì dưới hai cánh tay như có cánh thổi lên làn gió mơ màng..”
Bán dạ tam bôi tửu
Bình minh sở trảm trà
Mỗi nhật cứ như thế
Lương y bất đáo gia
dịch là
Nửa đêm uống ba chén rượu
Sáng sớm uống vài chén trà
Ngày nào cũng như thế
Thầy thuốc không bao giờ tới nhà
Các cụ với kinh nghiệm sống, dùng trà để trị bị bệnh,
và ngày nay khoa học đã chứng minh rõ ràng.
Trung tâm nghiên cứu về bệnh ung thư
"DeutscheKrebsforshungszentrum in Heilberg cũng như Ðại Học Kasas
"University of Kasas city” phân tích trà xanh có các chất
"Epigallocatechin -3- Gallat viết tắc là EGCG chứa nhiều Vitamin E và C,
ngăn được sự viêm cứng mạch máu, giảm lượng mở trong máu vv..
Trà uống để tiêu khiển, hưởng nhàn thường nhật, và
dùng trong việc ngoại giao, tế lễ, cúng tổ tiên, cúng Phật. Tập tục uống
trà đã ăn sâu vào sinh hoạt, các văn nhân mặc khách thời xưa đã ca tụng
thú uống trà. Viên Chiêu thiền sư đời Lý Nhân Tông
Tặng quân thiên lý viễn
Tiên bả nhầt bình trà
dịch
Tiễn chân ai bước đường xa
Miệng cười đưa một bình trà tặng nhau
Các làng quê miền Trung người ta cũng trồng trà, hái
trà non hai lá, và nụ trà để biến chế dành cho ngày tết. Các khu vườn
ngoài diện tích sử dụng sinh hoạt, còn lại trồng cau, trái cây cam quít,
và những cây trà cao ngang tầm người. Người miền Trung thường gọi cây
trà là cây chè, lá dày lớn màu xanh đậm và láng, trổ bông màu trắng 5
cánh, đường kính khoảng 10 cm, nhụy vàng thơm nhẹ.
Dọc theo các đường làng, thị trấn miền Trung, thường
có quán bán nước chè xanh, trong căn lều tranh nhỏ, cái nồi đất nấu trà
tươi bốc mùì thơm ngon, trưa hè hay chiều thu, ghé quán uống bát chè
xanh múc bằng chiếc gáo đừa, trà xanh sóng sánh như nắng vàng với thoáng
hương thơm. Nâng chiếc bát bằng sứ uống từng hớp nhỏ, trà sẽ làm dịu cơn
khát và có cảm giác thú vị ngọt ngào. Trà là hình ảnh quen thuộc như cây
đa đầu làng, con đò bến sông, trà không thể thiếu trong sinh hoạt, dù
đời sống văn minh có những quán giải khát bán cola, nước ngọt với nước
đá. Nhưng không thể quên được quán chè xanh bên đường. Trà trở thành nếp
sống văn hóa, đã đi vào lòng dân tộc. Các cụ ngoài Bắc uống trà và ngâm
mấy câu thơ :
Làm trai biết đánh tổ tôm
Uống trà liên tử ngâm nôm Thúy Kiều
Bài thơ gọi trà của nhà cách mạng Phan Bội Châu
(1867-1940) chủ tịch danh dự của Việt Nam Quốc Dân Ðảng, buồn cho vận
nước. Ðể thức tỉnh hồn thiêng sông núi, trong thời kỳ chống thực dân
Pháp dày xéo quê hương :
Trà ơi ! Còn nước là vinh
hạnh
Cháy lưỡi khô môi thảm những ai !
Ðại văn hào Nguyễn Du (1765-1820) thưởng thức trà với
tâm sự
Khi hương sớm lúc trà trưa
Bàn lan điểm nước đường tơ họa đàn
Thi nhân uống trà để cảm thương cho số phận người kỷ
nử,
Khác h trọng lợi, kinh
đường ly cách
Mải buôn trà sớm tếch ngàn khơi
Thuyền không đậu bến mặc ai
Quanh thuyền trăng dãi, nước trôi lạnh lùng
Phan huy Thực
Nồi cơm nấu dở bát nước chè xanh
Ngồi vui kể chuyện tâm tình bên nhau
Hoàng Trung Thông
Dừng chân bên quán nước, người lính trẻ Quang Dũng
uống bát trà xanh nóng làm vơi cơn khát, diụ bớt nhọc nhằn. Tiếp tục
hành trang lên đường, nhưng lại vướng đọng bóng giai nhân
Tiền nước trả em rồi nắng gắt
Ðường xa choáng váng núi và mây
Hồn lính vấn vương vài sợi tóc
Tôi thương mà em đâu có hay
Quang Dũng
Trà đã đưa nhà thơ Tùy Anh trong những ngày viễn xứ,
trở về với nếp sống Cố đô Huế bên bóng dáng mẹ hìền, bát nước chè xanh
đầy hương vị quê hương, với tình mẫu tử thiêng liêng cao như trời, rộng
như biển, không thể phai mờ trong khung trời kỷ niệm !
Bát nước chè xanh
Mẹ dành cho mỗi sáng
Con thường uống cạn
trưới khi đến trường….
Con đã xa khung trời kỷ niệm
mỗi lần nhớ bát nước chè xanh
nhớ về mẹ có đôi mắt triều mến
vẫn còn in trong bát nước long lanh...
Tùy Anh
Nguyên sa nói về định mệnh, những oan nghiệt cuộc đời
tục lụy. Chiều chiều bên bình trà nhỏ, uống để nhớ lại cố hương! nhưng
thời gian đi mãi có đợi ai bao giờ !
Chất xám trong não bộ lên
men
Trán nhăn dăm bảy, nếp kinh thiên
Thượng Ðế trên cao, chiều độc ẩm
Mạt lộ, ta ngồi chỗ hạ phiên
Nguyễn Khuyến (1835-1909) cuộc đời nhàn hạ vui với
gió trăng
Khi vườn sau khi sân trước
Khi điếu thuốc, khi miếng trầu
Khi trà chuyên năm ba chén
Khi Kiều lẫy một đôi câu
Nguyễn Khuyến
Xuân về trong ba ngày tết, nâng tách trà nhớ lại xuân
xưa, bên quê nhà với muôn vàng kỷ niệm, chắp cánh dư âm từ tiềm thức trở
về chốn cũ xa khơi, dĩ vãng mãi mãi còn ngân vang trong lòng người viễn
xứ, uống trà đàm đạo để sống lại với hồn quê hương sông núi .
Tài liệu tham khảo
- Gruener Tee tác giả Jean Puetz & Monika Kirschner
- Das hobby thek buch
- Geheimmis Japan tác giả (Shuichi Kato)
- Sir Lanka tác giả (Polylott)
- The importance of living ( Lin Yutang)
Back
to Top
|