|
|
Vài nét về nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Thùy
Đại Chúng 103, 1/8/02
Nguyễn Thuỳ sinh quán Tiên Phước, Quãng Nam, nguyên giáo
sư các trường trung học Sài Gòn: Hưng Đạo, Phan Sào Nam,
Tân Thanh...
Làm thơ và viết văn từ cuối thập niên 50.
Những tác phẩm đã được xuất bản:
- Nền Tảng Tranh Chấp Liên Xô - Trung Cộng (1962)
- Ngụ Ngôn - Trùng Ngôn
- Tinh Thần Việt Nam
- Giảng Luận Ca Dao Dân Ca
- Nhân Loại Mới: Từ Nhất Thể Khởi Nguyên đến Nhất
Thể Hồi Phục
- Đoạn Trường Tân Thanh Tiếng Vui Trong L?i Buồn
- Mây Rồng
- Bình Minh Không Trong Tượng Số
- Cánh Chim Huyền Thoại
- Thơ Gởi Thượng Đế và Người Đời
- Sao Mắt
- Lẽ Đạo và Dòng Sử Mệnh Việt Nam
- Thơ Gởi Người Em Không Tên
Về Bùi Giáng:
ĐÔI MẪU CHUYỆN VỀ BÙI GIÁNG
Ai đã gần Bùi Giáng ít lâu cũng đều có thể ghi lại
đôi sự việc khác thường dần dần được xem như là
giai thoại trong cuộc sống của ông. Bùi Giáng và tôi thân
nhau trước tiên do cùng đồng hương xứ Quãng, tiếp theo
do thời gian thuê nhà ở sát bên nhau vào những năn
1959-1961 tại một hẽm đửng Trương Tấn Bửụ Sau nầy,
Bùi Giáng thường đến nhà tôi ở Chung Cư Minh Mạng
đường Sư Vạn Hạnh, có lúc ở luôn cả hai ba tháng. Có
nhiều sự việc kỳ lạ nơi anh nhưng tôi không nhớ hết,
chỉ xin kể đôi việc do chính tôi chứng kiến.
Những người nữ Việt Nam mà anh hay nhắc đến là: Ni cô
Trí Hải, Nam Phương Hoàng Hậu và Kim Cương (thỉnh thoảng
có Hà Thanh và Thu Trang). Với Nam Phương Hoàng Hậu, anh
không có lời nào bông đùa, vô lễ, có lẽ anh quí trọng
nét phúc đức hiền hậu, nét thiên hương quốc sắc mà
cũng có thể do anh nhớ lời Jésus qua câu nói bí hiểm:
"Trong cuộc xét đoán Nữ Vương Nam Phương sẽ đứng lên
với dòng dõi nầy mà định tội nó..." (ma:12-42). Thử nghe
một đoạn anh nói về Hoàng Hậu Nam Phương: "...Nhưng tại
sao từ Cổ chí Kim, chỉ riêng nhịp bước khoan thai của Nam
Phương Hoàng Hậu là nhu mỳ, kiều diễm mà thôỉ Thậm
chí đôi phen Nam Phương Hoàng Hậu vội vàng cuống cuồng
hấp tấp, thiên hạ nhìn vào vẫn cứ thấy là rất mực
kiều diễm du dương? Thế thì? Nếu như quốc sắc thiên
hương có riêng thể lệ ẩn mật của thiên tài thiên
hương quốc sắc thì Thiên Tài Thi Nhiên kinh thiên động
địa há chăng chẳng thể nào có riêng thể lệ thiên tài
của nó dựng lập lên từ bờm xờm ngổn ngang gò đống
dâu biển hay saỏ Với Ni cô Trí Hải, thường anh gọi là
mẫu thân và cũng không lời nào xúc phạm vì là một nữ
tu và anh xem như là hình ảnh một nhân vật võ hiệp trong
tiểu thuyết "Tiếu Ngạo Giang Hồ" của Kim Dung. Riêng với
Kim Cương, anh thường gọi là mẫu thân, kỳ nữ, tiên
nương, nương tử và hay đùa cợt. Một lần tôi theo anh
đi ngang qua nhà Kim Cương nơi đường Trương Minh Ký, anh
đi qua, đi lại và la lớn: "Cô Kim Cương có mấy cái...cô
Kim Cương có ba cái...; một cái tròn, một cái vuông, một
cái tam giác...". Kim Cương trong nhà bỗng mở cửa gọi
lớn: "Anh Giáng, anh lại đây...". Anh đang do dự, Kim Cương
lại gọi: "Anh đến đây, Kim nói điều nầy cho nghe...". Anh
vừa bước đến, Kim Cương lôi cả anh và tôi vào nhà
rồi năn nỉ: "Anh Giáng, Kim van anh, anh đừng nói thế
nữạ Anh cứ oang oang như thế, bọn trẻ thấy Kim nơi đâu
cũng réo như vậy, Kim chịu sao nỗi...". Anh xin lỗi, hứa
không nói nữa, rồi uống xong hai chén trà, lại ra đi, Kim
Cương giữ lại ăn tối, nhất định không chịụ Thấy anh
nhiều tình cảm và thương mến Kim Cương, một hôm tôi
đề nghị: "Cô Kim, hay là cô lấy anh Giáng làm chồng đị
Biết đâu cô có thể giúp anh ta bớt khùng và sẽ viết
lách đường hoàng, chĩnh chạc, dễ hiểu hơn". Kim Cương
bảo: "Không chịu nỗi ảnh đâu, anh Thuỳ ơi! Ảnh sống kỳ
cục lắm. Với lại, ảnh đâu có yêu Kim đâụ Ảnh chỉ
thương thôị Anh xem, ảnh chỉ ngồi nói chuyện nhiều lắm
là 5, 10 phút rồi lại chạy ra đường múa may một hồi
rồi mới trở lại tiếp tục như thế. Anh ta không bao giờ
ngồi với Kim hay với cô gái nào được lâu đâụ Kim
cũng muốn giúp anh Giáng nhiều nhưng anh ấy vẫn chứng
nào tật nấy". Tôi không rõ, anh để ý Kim Cương có do
tên cô trùng hợp với nhan đề Kinh Kim Cang của Phật Giáo
hay không...Điều Kim Cương nói có thể đúng, Giáng chỉ
thương người chứ không yêu ai cả theo nghĩa mối tình nam
nữ.
Ngày anh và vợ chồng tôi thuê nhà ở sát cạnh nhau, anh
còn chĩnh chạc lắm, đi dạy ở các trường Tân Thịnh, Tân
Thanh (do Phan Thuyết và Phan Út, người Quãng Nam, có bà con
xa gần với anh, làm hiệu trưởng), anh nuôi cô em đi học.
Lúc nầy, anh viết khảo luận văn học, vẽ tranh và làm
thợ Tranh anh vẽ, chẳng ai hiểu gì, chẳng thuộc một
trường phái nào cả, nội dung theo anh là minh hoạ lại các
huyền thoại, thần thoại Hy- Lạp. Thơ anh lúc nầy chưa "kỳ
cục" như sau nầỵ Anh thường kéo tôi vào những lùm cây
đường Nguyễn Huỳnh Đức, ngồi hết gốc cây nầy đến
gốc cây khác và anh làm thơ dù nhiều lúc trời tối mịt,
anh vẫn cứ viết trên một cuốn tập nhỏ. Một lần
kiến cắn anh, anh phủi tùm lum cả người rồi la lên:
"Kiến cắn thơ tao". Một buổi chiều, Nguyễn Đức Quỳnh
đến chơi, vợ tôi mời anh qua ăn cơm. Tôi phải đi dạy
tối, lúc về vợ tôi thuật lại là anh và Nguyễn Đức
Quỳnh cãi nhau đến thế nào đó, anh quơ tay hất hết cả
thức ăn, chén đĩa xuống đất. Hầu như, từ lâu, anh
không mấy thiện cảm với các nhà học giả, các giáo sư
Đại Học, các nhà phê bình. Trong "Con Đường Ngã Ba" (An
Tiêm xuất bản, Sài Gòn 1972), Bùi Giáng cho đấy là
"những đạo thính đồ thuyết" (nghe ngoài đường và nói
ngoài đường) là hoạt tinh thể của con người mạt hậụ
Nó thông minh một cách thô thiển, nó vễnh tai ở ngoài
đường và bi bô ăn nói ngoài đường để tàn phá mọi
ngã ba đường của bước chân đi từ nội tâm, nội mật.
Nguyễn Bách Khoa là lãnh tụ bọn chúng...phó lãnh tụ là
Đặng Thai Maị Tổng Thư Ký là Vũ Ngọc Phan". Cũng thế,
Bùi Giáng công kích Jean Wahl, giáo sư Đại Học Sorbonne, Jean
Paul Sartre khi nhà văn, nhà triết nầy viết "Giảng Luận"
về "Kẻ Xa Lạ" (explication de 1Etranger) của Albert Camus, công
kích Giáo Sư Trần Thái Đỉnh, học giả Phùng Hữu Lan,
Thiền Sư Daisets Teltars Suzuki,...
Ngày tôi về chung cư Minh Mạng, anh thường đến tôi, có
lúc ở liền hai ba tháng, ban ngày "thiền hành" với bộ
quần áo "cái bang", đêm về lăn kềnh ra sàn xi măng ngủ
hoặc đọc thơ, nói oang oang những gì khiến người các
nhà kế bên không ngủ được. Một lần anh xách một con
mèo chết, cẩn thận treo nơi sợi giây thép phía sau nhà,
tôi dùng để phơi quần áọ Hai ba ngày sau, mùi hôi thối
không chịu nổi, tôi năn nỉ mấy anh cũng không chịu xách
quăng đị Cuối cùng hàng xóm la ó quá, tôi nhân lúc anh
đi vắng, xách ném vào đống rác; lúc anh về biết rõ
sự việc, chỉ lắc đầu nhưng rồi lại bảo: "Chú mày làm
được lắm!". Sau năm 1975, anh không làm thơ cũng không
viết lách gì; thỉnh thoảng ngồi nơi chân cầu thang ở
chung cư tôi ở, anh có làm ít câu nhưng rồi không tiếp
tục và thường trùng với những câu trong các tác phẩm
trước. Anh đi vào cuộc điên nhiều hơn. Những lần
"được điên", anh vui lắm như được sống trong một
thế giới nào khác thường, thật hạnh phúc. Những lần
không đi được vào "cuộc điên" anh dã dượi, tê liệt,
nằm suốt cả mấy ngày hay hằng tuần liên tiếp như một
lần ở chùa Long Vân Gò Vấp; mấy thầy torng chùa và tôi
đến lay anh dậy ăn cơm, anh đều nằm lỳ bất đô.ng.
Lúc đó, đọc thơ hay nói chuyện tư tưởng nào Phật,
Chúa, Heidegger, Nietzche, Nguyễn Du,...anh đều khoát tay
không nghe và không cho nóị Lúc vào cơn điên, anh chạy,
nhảy múa may, chọc ghẹo đủ mọi hạng người từ trẻ con
đến ông già, các bà bán hàng, các cô bán thuốc lá. Tôi
khổ nhất là phải theo anh, nghe anh chửi bới lung tung,
mượn tôi làm đòn kê để chửi thiên hạ, rồi nói tục
hết sức tục, bắt tôi phải cúi lạy các cô bán thuốc lá
lẻ, bảo đấy là thánh nữ, tiên nương, là Quan Thế Aâm
Bồ Tát. Anh cứ bảo tôi là bỏ dạy, bỏ hết mọi thứ theo
anh, điên như anh mới thấy vui, mới cứu được đờị
Phải nói rằng anh làm khổ tôi rất nhiều nhưng không
hiểu sao, cứ có anh là tôi lại thấy vui ra, một niềm vui
không thể phân tích được, một cái vui kín nhiệm, bàng
bạc lạ kỳ; vì thế mà tôi chịu khó với anh. Có tôi đi
với anh, anh càng dễ điên hơn, vui hơn và thấy yên ổn
hơn. Anh bảo tôi là thầy giáo, hiền lành nên nếu có ai
"trận thượng" với anh, tôi can thiệp, người ta sẽ bỏ
quạ Nhiều khi có một cô gái nào đó, mến anh, đi theo anh
"thiền hành" dọc đường, anh thấy vui và yên tâm lắm.
Cô bồ tôi là Hoàng Hải Thanh Vân, sinh viên Đại Học Sư
Phạm ban Anh Văn thường theo anh và uống cà phê với anh.
Quàng vai anh giống như một nhân tình, anh thấy vui và thú
vị lắm. Năm 1976, lúc cô phải tiếp tục năm học sau cùng,
anh thường đến Đại Học Vạn Hạnh (Việt Cộng chuyển
Đại Học Sư Phạm về đó), đứng dưới réo to lên: "Cô
Thanh Vân ơi! Bồ Tát Thanh Vân ơi! Xuống đây, đưa tôi
đi uống cà phê, học làm gì nữa, bọn dốt nó biết gì
mà dạy cộ Cô phải dạy chúng nó chứ...". Một buổi tối,
tôi đi vắng, ở nhà, anh đưa mấy bài thơ tiếng Anh cho
cô dịch, anh khen cô thông minh, rồi bảo cô hãy đặt chân
lên đầu anh. Cô không dám, anh liền nâng chân cô đặt
trên đầu mình rồi lảm nhảm những gì đó. Sau nầy, vào
những năm 1982, 1983, cô ĐNLH một giáo viên cấp ba, hình
như là cháu bà Tôn Nữ Hỷ Khương cùng một cô nữa (tôi
quên tên) hình như là cháu của nhà văn Cung Giữ Nguyên
(theo cô bảo) bỗng xách đồ đạt đến nhà tôi ở. Một
tháng sau, cô nầy bỏ đi, cô H còn ở lại những mấy
tháng nữạ Bùi Giáng đến, hai cô nầy hoảng quá, nhưng
sau thấy Bùi Giáng "đường hoàng" nên lại cảm mến. Cô H
lại chịu khó theo anh "thiền hành" qua các ngã đường, vào
quán cà phê, quàng tay, ôm hôn Bùi Giáng khiến mọi người
rất ngạc nhiên. Trong thời gian cô H ở nhà tôi, nhiều
lần nhà họa và điêu khắc Phạm Văn Hạng cũng có đến
và gặp Bùi Giáng. Có cả Giáo Sư Nguyễn Văn Trung đến,
nghe cô H ngâm thơ nhưng ông Trung không gặp Bùi Giáng. Lại
có cả nhà thơ Trần Đới và sau nầy thêm nhà thơ Lê
Nhược Thuỷ và chính Lê Nhược Thuỷ đã đem cô H đi nơi
khác. Có một cô gái trẻ mà anh không biết, không quen,
theo anh suốt một tuần trong các cuộc điên của anh, anh
thấy lạ hỏi tôi: "Có phải chúng nó cho cô ta theo dõi tao
không?".
Còn nhớ trước 1975, Bùi Giáng quen với Huệ Nhật giúp
việc cho Hội "Đất Lành" (Terre des hommes) của Đức. Một
bà Tiến Sĩ người Đức thuộc cơ sở nầy đến ở ngay
nơi nhà Huệ Nhật nơi dưới phía cầu Tân Thuận. Bùi
Giáng rủ tôi cùng đến nhà Huệ Nhật gặp bà đó. Nghĩ
rằng bà ấy chắc biết nhiều về Triết, về tư tưởng,
Bùi Giáng nói huyên thuyên về thơ văn, về Nietzche, về
Heidegger, về Holderlin...nhưng bà ta nào có biết gì về tư
tưởng, lại thêm giọng Đức, giọng Anh của Bùi Giáng
chẳng ra hồn gì mà bà lại không biết tiếng Pháp nên
mặc cho Bùi Giáng nói, bà chỉ nghe thôi, nhưng bà rất
kính trọng Bùi Giáng, mỗi lần anh và tôi đến, không có
Huệ Nhật thì chính bà nấu trà và đem bánh ra đãị
Sau năm 1975, vào những năm 1982, 1983 gì đó, Huệ Nhật ở
chung với cô Nguyễn Thị Muộn. Hai người lập một quán
cơm Xã Hội ở một đường vùng Chợ Lớn. Bùi Giáng
thường đến. Tôi có đến giúp việc. Chính quán cơm xã
hội nầy, một buổi chiều mưa, anh Giáng ngồi, mượn
tôi chửi đổng thiên hạ cho đến tối mịt. Vừa hết
mưa, tôi giục anh về; đến nhà thờ Ngã Sáu, lại mưa, cả
hai chui vào căn lều bằng tấm bạt của một ông già (hình
như trốn vùng kinh tế mới về). Anh lại la to và nói tục
không thể tưởng tượng được, khiến ông già đuổi
đị Cả hai lại đi trong mưa, về đến Chung Cư, tôi thay
đồ, bật đèn ngồi viết còn anh thì cứ để nguyên
quần áo cái bang ướt át, lăn kềnh ra nhà ngủ. Một ít
lâu sau, do Huệ Nhật nói sau không biết, thêm đứa học
trò cũ của tôi là Phạm Đình Thành, nhà ở Chung Cư Aán
Quang rủ rê thế nào, giới thiệu anh tiếp xúc với đôi
Mục Sư Tin Lành từ quận 8 sang nhà Huệ Nhật, anh Giáng
lại ngã theo Tin Lành. Huệ Nhật và Phạm Đình Thành sắm
sửa áo quần, giày dép, cà vạt và đưa anh đi nhà thờ.
Các vị Mục Sư cũng vui lắm, được Bùi Giáng theo đạo
thật vô cùng quí. Nhưng chỉ chừng hơn nữa tháng sau, anh
đến nhà tôi với quần áo cái bang như cũ. Tôi hỏi: "Sao,
Chúa bỏ anh hay anh bỏ Chúả". Anh trả lời: "Ông Chúa, ông
Phật có bỏ ai đâu; tao bỏ các ổng. Mà lạ quá! Tao khoái
các ổng, mà theo thì...khó chịu quá. Các ổng điên khác
taọ Cũng giống như Tô Đông Pha không chịu làm thiền sư
để chỉ làm thơ thôi". Anh tiếp xúc nhiều với các tu sĩ
Phật Giáo, nhờ anh mà tôi biết được các Ngài Huyền
Quang (tại chùa Kim Cương đường Trương Tấn Bữu), Thích
Minh Châu ở Đại Học Vạn Hạnh, Thích Đức Nhuận (tại
đường Phan Thanh Giản), sư Viên Minh (chùa Thereveda đường
Phan Đình Phùng), các thầy ở chùa Long Vân Gò Vấp. Anh
cũng gặp và nói chuyện với đôi Linh Mục, Mục Sự Anh
luôn luôn thiện cảm, ca tụng và đề cao nữa nhưng không
thể theo một Giáo Hội nàọ
Đi với tôi, anh chỉ đọc thơ, nói oang oang những gì đâu
đâu, chẳng bao giờ giảng tôi nghe về Phật, Chúa, Khổng,
Trang cũng chẳng giảng gì về Nguyễn Du, Heidegger,...tôi
bảo anh phải nói sao chứ cứ lối điên điên, khùng khùng
ấy, làm sao tôi hiểụ Anh bảo là: "Chú mày chỉ nghe, không
cần hiểu". Anh nói là tôi có cái Tâm tốt, có chút thông
minh, và thường nhìn tôi lúc tôi thiu thỉu ngủ như muốn
tìm xem nơi tôi có nét gì đó mà chưa hiện rạ Sau nầy,
từ 1979, tôi lại có hứng làm thơ, viết lách, những gì
anh nói lối phiêu bồng phiêu hốt đó bỗng nhiên mơ hồ
đến với tôi và tôi hình dung ra là anh đã gián tiếp
"giáo dục" tôi theo lối "giáo ngoại biệt truyền".
Nữa tháng sau, trước khi quyết định vượt biên (năm
1988), tôi ngõ ý rủ anh. Anh trầm ngâm không nói gì. Ít
hôm sau, anh bảo: "Tao không đi được. ở bên nầy còn có
các bà già, bọn trẻ con với bạn bè như chú mầy cho tao
ăn, chứ qua bên đó, người ta nhốt tao vào nhà thương
điên đến rục xương, tao sống sao được". Ít hôm sau
nữa, anh bảo: "Hay là mầy đừng đi, ở lại vào cuộc
điên với taọ Mầy đi, tao buồn đến chết thôi". Ít
ngày sau, anh lại nói: "Mà mầy đi cũng được lắm. Mầy
ở lại chẳng làm được gì. Mầy có cái Tâm tốt, bây
giờ đã vào đại hải, qua bên đó biết đâu sẽ làm
được cái gì". Trước ngày tôi đi, tôi gởi tặng anh
một bài thơ, anh xem xong chỉ trầm ngâm gật đầu, không
nói lời gì nhưng xem ra anh buồn lắm.
Bùi Giáng là người đức độ lớn. Anh thương tất cả
mọi ngườị Anh nhìn ai cũng như thấy cái tâm hồn thánh
nhân và anh muốn khơi động tấm lòng nhân thánh đó qua
lối điên khùng của anh. Anh lại rất tin ngườị Có một
kẻ bảo với anh: "Anh không biết, chứ bác Hồ trước đây
đọc thơ và sách anh, khen anh lắm". Anh tin ngay và hí hửng
nói với tôi, tôi chỉ cườị Một lần, một người bạn
bên Pháp về, bảo anh: "Brigite Bardot đi tắm biển, nằm
trên ghế xích đu đọc sách anh, thích thú lắm". Anh hỏi
lại: "Cô có biết tiếng Việt đâu mà đọc sách tôỉ".
Người bạn đáp: "Cô ta đọc quyển Dialogue trong đó có
bài anh viết cho René Char ấy". Thế là anh tin và kể với
tôị Để anh vui tôi bảo: "Có thể lắm". Một lần, anh
kể với tôi và sau nầy, hình như anh viết lại trong "Ngày
Tháng Ngao Du" chuyện sau đây:
"Một hôm, Brigite Bardot chạy tới ôm chầm Bùi Giáng rồi
bảo:
- Anh yêu ơi! Hôm nay, em mới rõ là anh yêu em, nhiều,
thật nhiều, hơn cả chị Monroẹ
- Sao cô biết?
- Thì đây nầỵ Thư anh viết cho em dở ẹt, còn anh viết
cho chị Monroe thì văn hoa, bay bướm không thể tả.
- Thư tôi viết cho cô dở ẹt, sao cô bảo tôi yêu cô hơn
Monroẻ
- Anh còn giả vờ nữạ Thư viết dở ẹt thì tình mới
thật, mới chân; còn thư viết bay bướm thì chỉ là tán
tỉnh chứ tình đâu có thật".
Một chuyện nữa giữa anh và tôị Một hôm, vừa chạng
vạng, trời mưa lâm râm, anh đến tìm tôi nơi nhà anh Lê
Đình Duyên nơi tôi trọ (Lê Đình Duyên lúc này dạy học
ở trường Tân Thạnh, sau nầy làm Đổng Lý Văn Phòng Bộ
Thông Tin, Bộ Trưởng là Phạm Thái thời Nguyễn Khánh, sau
đó làm Dân Biểu), đọc mấy câu thơ của Nguyên Sa:
Anh sẽ cầm lấy đôi bàn tay
Tóc em anh sẽ bảo là mây
Ngày mai hai đứa mình xa cách
Anh vẫn được nhìn mây trắng baỵ
(không rõ tôi nhớ có đúng nguyên văn không)
Rồi anh hỏi tôi: "Mầy thấy hay không?". Tôi đáp: "Kể ra
thơ tình tuổi sinh viên, học sinh, như thế cũng có thể
xem là hay". Anh hỏi tiếp: "Thế, theo mầy, Truyện Kiều có
hay không?". Tôi bảo: "Hay là cái cẳng rồi". Anh bỗng nỗi
sùng, mắng tôi: "Khả năng như mầy mà dám bảo Truyện
Kiều haỷ Mầy phải nói "Truyện Kiều dở như ...C...
Truyện Kiều đáng đem chùi đít; như thế ông Nguyễn Du
sẽ cười ha hả, cho rằng trên thế gian có kẻ hậu sinh
hiểu ông. Mầy mà khen Truyện Kiều là mày làm nhục ông
Nguyễn Du, dưới suối vàng ông không nhắm mắt được
đâu". Nói xong anh bỏ đi ngaỵ Bực mình nhưng tôi nín
thinh. Trước nay, đi dạy, tôi giảng Truyện Kiều cũng chỉ
theo các sách giáo khoa đã có, chứ chưa để ý đào sâụ
Câu mắng của anh ám ảnh tôi mãi cho đến năm 1983, tôi
bắt đầu viết cuốn "Đoạn Trường Tân Thanh: Tiếng Vui
Trong Lời Buồn" mới phát hiện được những độc đáo
thâm sâu của Nguyễn Du và nhận ra rằng "Đoạn Trường
Tân Thanh" là một tác phẩm tư tưởng không riêng của dân
tộc ta mà chung cho cả nhân loạị
Trên đây là những điều có thật về Bùi Giáng mà tôi
được chứng kiến. Tôi kể lại trung thực, không hoa hoè,
thêm bớt. Còn một số chuyện nữa nhưng đã quá dàị Có
thể phần nào, tôi tự xem là kẻ "chịu chơi" với cơn
điên của Bùi Giáng nhiều nhất, chịu khổ với cơn điên
của anh cũng nhiều nhất (tôi lảnh anh ra khỏi nhà thương
Chợ Quán hai lần và một lần tại Phường 1 Cảnh Sát
Quận 10 ngày 29 tháng 4 năm 1975), chịu nghe anh mắng chửi
nhiều nhất và cũng nhận được nơi anh nguồn vui tin lạ
kỳ mỗi khi được ở bên anh. Tôi muốn viết một tác
phẩm về "Tư Tưởng Bùi Giáng"nhưng chưa có thời giờ
và hiện chẳng có một tác phẩm nào của anh. Bài thơ
đặc sắc nhất, tiêu biểu và làm cơ sở cho khuynh
hướng tư tưởng của anh, theo tôi là bài "Chào Nguyên
Xuân", bài thơ đầu trong tập "Mưa Nguồn".
Nguyễn Thuỳ
(Bài viết cho buổi nói chuyện "Bên Trời Tưởng Nhớ" do
Câu Lạc Bộ Văn Hoá Việt Nam Paris tổ chức ngày
15-06-2002)
|
|
|