Thành phố cổ Hội
An chỉ còn dư âm phồn thịnh của các thế kỷ trước, trầm mặc bên dòng sông
Thu Bồn xanh biết. Hội An nhiều tranh cãi về tên gọi. Phải Phố, Hội Phố,
Hải Phố thành phố ven biển, hay là Hai Phố vì có hai Phố Tàu-Nhựt hay
Hoài Phố là phố bên sông Hoài, nhánh sông Thu Bồn chảy qua Hội An ra đến
cửa Ðại. Thời thuộc địa Pháp gọi là Faifoo. Hội An cách Ðà Nẳng khỏang
30 km.
Tại Marakech (Morocco) trong cuộc họp
ngày 1/12/1999 Ủy ban Di sản của tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa
Liên Hiệp Quốc (UNESCO) công nhận Hội An và Mỹ Sơn là di sản văn hóa thế
giới.
Du khách ngoại quốc tới Việt Nam
thường đến Hội An, thời chiến tranh nhiều người gốc Quảng Nam, trưởng
thành tại các thành phố khác, chưa có dịp về thăm phố Hội. Sau 30/4/75
họ rời Việt Nam và trưởng thành tại hải ngoại, nhiều người chưa biết Hội
An.
Về nguồn là ước mơ chung của người
viễn xứ. Tôi sưu tầm sử liệu góp với độc giả tìm hiểu nguồn gốc, Quảng
Nam có phải là vị trí chiến lược từ đó mỡ rộng làm bàn đạp để người Việt
tiến về miền Nam ?
Qua các Triều Ðại
Thời vua Lê Ðại
Hành (980-1005) muốn ban giao với Chiêm Thành, nhưng vua Chiêm
(Paramecvarvarman) hiếu chiến bắt giam sứ giả, Năm 982 Lê Ðại Hành đem
quân trừng phạt đến kinh đô Indrapura của Chiêm Thành (ngày nay gọi là
Ðồng Dương) giết vua Chiêm Paramecvarvarman rút quân không chiếm đất.
Chiêm Thành lo sợ Ðại Việt, năm 1000 dời kinh đô vào vùng Vijaya (Bình
Ðịnh)..
Lý Thánh Tông (1054-1072) Vua đầu tiên
mở mang bờ cỏi xuống phía Nam...người Chiêm thường quấy phá người Việt,
Lý Thánh Tông đem quân đánh tới Ðồ Bàn năm (1069) bắt vua Chiêm là Chế
Củ (Rudravarman III) Chế Củ nhường 3 châu thuộc phía Bắc Chiêm Thành là
Bố Chánh ( bắc Quảng Bình) Ðịa Lý ( Quảng Trung và nam Quảng Bình) Ma
Linh (Quảng Trị) đổi lấy tự do. Ðược đất nhà vua chiêu mộ dân chúng đến
khai khẩn đất đai
Lịch sử thay đổi qua nhiều triều đại
đến đời Trần Thánh Tông (1258-1278) nhường ngôi cho con Trần Anh Tông
(1293-1314). Làm Thái Thượng Hòang sang thăm Chiêm Thành hai nước Việt
Chiêm ban giao tốt đẹp. Có thể ngài thấy từ Quảng Trị trở ra đất hẹp khô
cằn khó phát triển, phương Bắc Trung Hoa luôn quấy phá, bước qua đèo Hải
Vân về phía Nam là đồng bằng phì nhiêu, bờ biển trải dài, hy vọng phát
triễn về kinh tế... Vùng đất hứa hẹn cho tương lại nên ngài hứa gã Huyền
Trân Công Chúa cho Chế Mân.
Năm bính ngọ 1306 Vua Chiêm là Chế Mân
( Jaya Simhavarman ) trị vì năm (1288-1307) làm lễ thành hôn với Huyền
Trân Công Chúa,được tấn phong làm Hoàng Hậu gọi là Paramecvari. Chàng rể
Chế Mân làm sính lễ dâng hai Châu Ô và Châu Lý, cuộc hôn nhân nầy tạo
ngoại giao tốt đẹp giữa hai dân tộc Việt Chiêm
Trần Anh Tông (1293-1314) anh của
Huyền Trân Công Chúa, thâu nhận hai Châu trên đổi thành Thuận Châu và
Hóa Châu. Hoá châu gồm Ðiện Bàn và Duy Xuyên ngày nay. Ðại Việt cho di
dân đến khai phá, từ đó có cơ hội cho các Triều đại kế tiếp tiến dần về
phương Nam.
Năm 1307 Vua Chế Mân từ
trần theo tục Chiêm Thành, Hoàng hậu Paramecvari tức Huyền Trân phải hỏa
thiêu theo chồng. Tục lệ nầy người Ấn giáo còn áp dụng gọi là Suttee (trà tỳ) sau năm 1829 bỏ hẳn
Vua Trần Anh Tông thương em, cử phái
đoàn do tướng Trần Khắc Chân sang Chiêm Thành chia buồn, lợi dụng cơ hội
nầy giải thoát Huyền Trân đem về nước. Có thể ngoại giao của hai nước
Chiêm và Việt từ đó bất hòa
Nhà Trần suy yếu bị nhà Hồ chiếm ngôi,
Chế Bồng Nga (Pô Bin Swor 1360-1390) vua mạnh nhất của Chiêm Thành đem
quân sang đánh phá Ðại Việt vào các năm 1377 và 1378. Năm 1390 đánh
Thanh Hoá, tiến lên sông Hồng đánh với tướng Trần Khắc Chân, Chế Bồng
Nga bị Ba Lậu Kê làm phản chỉ điểm. Chiến thuyền của Chế Bồng Nga bị bắn
trúng tử trận. Từ đó Chiêm Thành bị suy yếu.
Vua Hồ Hán Thương (1401-1407) sai Ðỗ
Mãn đem quân đánh Chiêm Thành. Vua Chiêm Ba Ðích Lại (Virabhadravarman)
thua nhường đất Chiêm Ðộng (Thăng Bình) Thượng Hoàng Hồ Qúy Ly đòi thêm
miền Cổ Lũy Ðộng (Quảng Ngãi) (1)
Quân Minh đánh Ðại Việt, bắt gia đình
nhà Hồ (1407) Vua Chiêm là Trà Toàn lợi dụng lúc thay chủ đổi ngôi, đem
đại quân đánh chiếm phần đất đã nhường cho nhà Hồ.
Lê Thánh Tông
(1460-1479) bị Chiêm Thành đem quân quấy phá. Vua Lê phản công hành quân
tới Kinh đô Ðồ Bàn 1471 bắt Trà Toàn và Trà Toại. Chấm dứt chiến tranh
Việt Chiêm, chiếm vùng đất mới đổi tên thành Hoài Nhơn. sát nhập vào bốn
châu Thăng, Hoa, Tư, Nghiã, trở thành Quảng Nam Thừa Tuyên Ðạo. Danh từ
QUẢNG NAM được chính thức đi vào Lịch sử.
Quảng Nam có nghiã là mở rộng về
phương Nam, bắt đầu trang sử mới cho lưu dân Việt, từ đó khai phá và mở
mang bờ cỏi đến đồng bằng sông Cửu Long (Mekong).và dừng lại năm 1884
khi thực dân Pháp chiếm Việt Nam và các nước Ðông Dương
Quảng Nam đất "địa linh
nhân kiệt; Ngũ Phụng tề phi" nơi phát động các Phong Trào: Nghiã Hội
(1885-1887) Ðông Du (1903-1905) và Duy Tân (1906-1908). là những ngọn
duốt soi sáng, đưa đến những cuộc vận động tranh đấu giành lại độc lập
của toàn dân Việt Nam đầu thế kỷ 20
Kinh
Ðô Simhapura
Các học giả Pháp C.Paris và C. lemire nghiên cứu sưu
tầm các tác phẩm điêu khắc tại Trà Kiệu. Cuối thế kỷ thứ 19 hai ông
L.Finot và H. Parmentier khảo sát dấu vết tường thành tại đây. Năm
1927-1928 nhà khảo cổ J.Y claeys khai quật quy mô gần một năm tìm kiếm
di tích...và chứng minh Thành Trà Kiệu là Kinh Ðô Simhapura (gọi Kinh
thành Sư Tử) được xây dựng vào thế kỷ thứ 4 dưới đời vua Bhadravarman.
Ðầu thế kỷ thứ 11 vùng đất nầy bị phiá Bắc (Ðại Việt ) đe dọa dời Kinh
đô Ðồ Bàn (Choppant) về vùng Vijaya Bình Ðịnh. thiệt thòi lớn lao của
người Chàm, vì đã phải bỏ kinh đô của các vua Chàm nhiều thế kỷ trước,
đã tích trữ những tài sản châu báu, và đã chứng kiến những giai đoạn oai
hùng của vương quốc Chàm (2)
Di dân Ðại Việt
với tính nhẩn nại chuyên cần, khai phá hoang điạ, vượt qua sơn lam,
chướng khí và thú dữ tạo nên làng mạc, những cánh đồng lúa phì nhiêu,
người Việt nhờ đoàn kết có tổ chức, tạo dựng cuộc sống mới, được quân
đội can thiệp bảo vệ nếu Chiêm Thành quấy phá
Chiêm Thành có nhiều Thị tộc khác
nhau, mỗi Thị tộc có cùng một họ và vật tổ riêng. Hai Thị tộc lớn là Thị
tộc Cây Dừa( Narikelavamca) ở vùng Indrapura/ Quảng Nam và thị tộc Cây
Cau ( Kramukavamca vùng Panduranga/ Phan Rang (3) Các Vua Chiêm Thành,
hiếu chiến gây chiến với các nước lâng ban, để rồi trỡ thành nạn nhân
khi bị đánh trả.. lúc vui cắt đất dâng hiến, thua trận nhường đất...Thế
lực suy kém càng ngày xa lánh người Việt, vô tình họ bỏ đất cho người
Việt khai phá. Dân tộc Chiêm Thành bị xóa tên vào năm 1832.
Người Việt sống nghề nông nghiệp, lấy giống lúa Chiêm
ngắn hạn của Chiêm Thành giúp nâng cao đời sống về nông nghiệp và dân số
gia tăng, cho đến ngày nay còn giống lúa ấy tại Quảng Nam.
Người Ngoại Quốc
Trải qua nhiều giai đoạn
lịch sử từ nhà Trần, nhà Hồ và nhà Lê. Hội An được phục hồi dưới thời
Nguyễn Hoàng (1558-1613) kiêm nhiệm Trấn nhậm đạo Quảng Nam nhờ chính
sách cai trị tốt đẹp, hoạt động mạnh ngành ngoại thương, phát triển về
kinh tế cạnh tranh với phố Hiến Ðàng ngoài, mở cửa buôn bán với ngoại
quốc : người Bồ Ðồ Nha Hòa Lan, đến từ Ðàng Ngoài ( Chúa Trịnh). Hội An
buôn bán tấp nập, các thổ sản cau khô quế, gạo hương, gạo nếp, đường,
các loại bông, thuốc lá hồ, tiêu, yến sào cù Lao Chàm, tơ sống, các
loại lụa, gỗ quý và hoa quả.vv. (*)
Hội an một thời là trung tâm ngoại
thương, cửa ngỏ quan trọng tiếp xúc với văn minh Tây Phương, cách Huế
khoảng 130 km. Sách Ðại Nam Thực Lực Tân Biên viết "bấy giờ Chúa trấn
hơn mười năm, chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm minh, nhân dân đều an
cư lạc nghiệp, chợ không hoi giá, không trộm cướp. Thuyền buôn nước
ngoài đến nhiều. Trấn trở nên đô hội lớn" (4)
Có thể giai đoạn trước khi người Việt
di dân đến, thương nhân người Bồ Ðồ Nha từng đến khảo sát buôn bán tại
cửa Ðại Chiêm ( cửa Ðại ngày nay) người Bồ gọi hải cảng đó với tên
Cacciam. Và người Chiêm Thành dùng cửa biển Ðại Chiêm buôn bán với Mã
Lai, Ấn độ, phần lớn người Chiêm Thành theo Hồi Giáo và Bà La Môn.
Năm 1615 Giáo sĩ Francesco Buzzoni
(1576-1639) và Diego Carvahlo người Tây Ban Nha đến Hội An truyền giáo.
Kế tiếp Giáo sĩ Francesco de Pina (1585-1625) người Bồ Ðồ Nha đến Hội An
các năm ( 1616-1617 và 1620-1623), thông thạo tiếng Việt, ngài là người
đầu tiên biên soạn từ tiếng La Tinh sang Việt ngữ ; kế tiếp Alexandre de
Rhodes (1583-1660) người Pháp, đến Hội An năm 1624 là nhà truyền giáo,
nhà ngôn ngữ học. Học tiếng Việt, tiếp tục phiên âm soạn chữ Quốc Ngữ,
mở đầu kỷ nguyên mới cho Văn học Việt Nam. Năm 1651 Alexandre de Rhodes
cho in tự điển Việt ngữ- La Tinh Dictionnaire Annamite Portugais Latin
và cuốn giáo lý vấn đáp Catéchismeannamite et Latin. Sau đó giám mục d'Adran ( Bá Ða Lộc) sửa lại thành bộ tự điển Việt ngữ sang La tinh kế
tiếp công việc nầy là giám mục Tabert biên soạn thành bộ Dictionnaire
Annamnitico- Latatinum ( 5)
“Sự chuyển đổi từ chữ
Nho và chữ Nôm qua Quốc ngữ là một kỳ công mở ra một chân trời mới cho
văn minh và văn hóa Việt, đã phát khởi đầu tiên tại Quảng Nam vào đầu
thế kỷ 17“ (6)
Người Hòa Lan đến buôn bán từ năm 1636 đến 1641,
nhưng phải rời Ðàng Trong vì họ giúp cho Chúa Trịnh Ðàng Ngoài. ( nội
chiến Trịnh-Nguyễn phân tranh)
Thương gia Nhật Bản từ Nagasaki tới Hội An năm
(1604-1634) lập các tiệm buôn kiến tạo khu phố riêng. Xây Lai Viễn Kiều
bắt ngang con rạch nhỏ, nối tiếp giữa con đường Duy Tân và Cường Ðể (gọi
là Chùa Cầu), làm bằng gỗ dài 18 m trên lợp mái ngoái âm dương. Hai bên
cầu thờ mỗi bên, hai con chó và hai con khỉ ( nghĩa cây cầu xây từ năm
thân, xong năm tuất )
Thương gia Nhật làm ăn phồn thịnh, nhiều nhân vật
tiếng tăm các đại tộc Chaya Sotarô người trong họ Sotarô cưới Công chúa
của Sải vương Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) trấn nhậm Quảng Nam ? nhiều
nghi vấn khác nhau qua các báo chí, sử sách về việc lấy chồng các nàng
Công chúa, liên quan đến Hội An Quảng Nam.Nhà văn Trần Gia Phụng dành
một chương " Ai đưa Công chúa sang sông" giải thích những nghi vấn về
hôn nhân của các Công chúa thời Chúa Nguyễn. (7) Theo gia phả Nguyễn
Phước Tộc thế Phả ấn hành tại Huế 1995 chứng minh được cuộc hôn nhân của
các nàng Công chúa, Ngọc Vạn và Ngọc Khoa
Nội chiến Trịnh Nguyễn
bùng nổ tại Bố Chánh năm 1627. Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên Theo chính
sách nhà Trần, gả con gái cho vua Chiêm Thành để ngoại giao hai nước
được ổn định ở phía Nam, vì phiá Bắc phải đương đầu chống lại với Chúa
Trịnh.
* Năm canh thân 1620 bà
Ngọc Vạn được đức Hy Tông sãi vương gã cho vua Chân lạp là Chey Chetta 2.về sau nể tình bà. Vua Chân lạp cho người Việt lập dinh điền tại Mô
xoài Bà riạ
* Năm tân mùi 1631 bà
Ngọc Khoa được đức Hy tông gả cho vua Chiêm thành lá Pôrômê. Nhờ có cuộc
hôn phối nầy mà tình giao hảo giữa hai nước Việt Chiêm tốt đẹp
Như vậy thương gia Nhật Bản có thể
cưới người khác không phải Công chúa của Sải Vương. Vấn đề hôn nhân dị
chủng không xa lạ khi người Pháp, người Mỹ đến Việt nam. Nhưng trường
hợp kết hôn của các Công chúa : Huyền Trân thế kỷ thứ 14 được vùng đất
Thuận-Hóa. Công chúa Ngọc Vạn, và Ngọc Khoa thế kỷ thứ 17, từ đó có cơ
hội đưa người Việt xuống vùng đất Chân Lạp, đồng bằng sông Cửu Long.
Chúng ta nên vinh danh các nàng Công chúa đã hy sinh, lập gia đình theo
nhu cầu và quyền lợi của dân tộc Ðại Việt.
Năm 1620 Nhật Bản áp dụng chính sách
bế môn tỏa cảng. Từ đó người Nhật ít lui tới Hội An, nhường ảnh hưởng
thương mãi cho người Trung Hoa và các thương thuyền Âu Châu.
Các thương thuyền Ngoại quốc đến Á
Châu buôn bán như Mã Lai, Ấn Ðộ, Macao. ghé vào cảng Hội An buôn
bán.Theo thời tiết họ thả neo tại Hội An vào mùa xuân chờ đến mùa Thu có
gió nồm thổi đến. Họ nhổ neo thả buồm đi về hướng Bắc.
Ðầu thế kỷ 17 người
Trung Hoa là những thần dân, quan lại của nhà Minh (1368-1644) bị sụp đổ
họ bỏ nước xuôi nam, Vì người Kim từ miền Bắc xuống lật đổ nhà Minh. Lập
nên vương Triều Mãn Thanh (1644-1912)
Người Hoa sống các ven biển Phúc Kiến, Triều Châu,
Quảng Ðông, Hải Nam dùng thuyền đến Việt Nam tị nạn. Lúc đầu họ đến Phú
Xuân, kinh đô xứ Ðàn Trong, sống tập trung thành một làng, gọi là làng
Minh Hương (8)
Hội An có nhiều thương khách người Hoa
đến buôn bán xứ Ðàn Trong từ trước, Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan cho phép
người Hoa nhập quốc tịch Ðại Việt xây dựng làng Minh Hương (1645-1653).
Nhờ kinh nghiệm về thương mãi, ngoại thương người Minh Hương thành công
đóng góp với người Việt, người Chiêm phát triển xã hội tạo thành phố Hội
An sầm uất.
Năm 1679 cựu quan lại nhà Minh chống
nhà Thanh thất bại là Dương Ngạn Ðịch và Trần Thượng Xuyên... với 3000
quân và 50 chiến thuyền sang xin tỵ nạn. Chúa Nguyễn là Hiền Vương
(1648-1687) cho phép một số người đến Hội an, còn lại gởi vào đất Chân
Lạp yêu cầu vua Chân Lạp cho đất lập nghiệp. Như dòng họ Mạc Cửu
(1655-1735) khai phá Hà Tiên vv.
Sinh Hoạt của người Hoa
Người Hoa luôn trọng đạo Khổng Mạnh :
Nhân, Lễ, Nghiã, Trí, Tín, cũng như Ðạo Phật phát triễn mạnh, các danh
Tăng đã vận động xây nhiều ngôi chùa nguy nga và tráng lệ chùa Quảng
Triệu, chuà Phước Kiến (người ta quen gọi là Chùa Tàu) Cổng Tam quan có
3 mái ngoái cong, màu xanh lá cây trên mái có những con rồng dài lộng
lẫy, tường sơn màu hồng nhạt. phiá trước có cái Ðỉnh bằng đồng đen cao
khoảng 1m50 hai bên cổng, hai con Ruà lớn bằng đá đội cột bia cao, bên
cạnh những cây sứ to vỏ cây màu xám đậm.Các chậu kiểng cắt tiả công phu. Phiá sau cổng tam quan là ngôi chùa kiến trúc theo lối cổ điêu khắc
công phu, cột gỗ to màu đen, dưới chân là những tảng đá đen hình vuông
hay tròn, trên cột treo những câu đối đỏ, chữ mạ vàng.. Bàn thờ uy nguy
đầy nét huyền bí. Nhan hình xoắn khói màu trắng nhẹ nhàng phản phất
thơm mùi trầm
Phần lớn người Hoa ở trên đường Cường
Ðể (Trần Phú) đã xây các Hội Quán, sinh hoạt tế lễ hàng năm.Vật liệu
xây cất đá quý, tranh thuỷ mạc.. được nhập cảng từ các vùng bên Trung
Hoa, các Hội Quán : (9)
Hội Quán Phúc Kiến
(1792 )
Hội Quán Quảng Ðông (1786)
Hội Quán Hải Nam (?)
Hội Quán Triều Châu (1776)
Hội Quán năm cộng đồng người Hoa
(1773)
Phần lớn người Hoa chuyên về ngành
thương mãi, nhưng Ông
Châu Thượng Văn (1856-1908) hiệu Thơ Ðồng gốc
người Minh Hương, nhiệt thành yêu nước Việt và hăng say tích cực đóng
góp với Phong Trào Duy Tân. Năm 1908 bị bắt cùng với Huỳnh Thúc Kháng.vv.. Châu Tiên Sinh phản đối chính quyền bảo hộ đàn áp sĩ phu Việt Nam,
tuyệt thực mất trong lao Thừa Phủ Huế trước khi đày đến Lao Bảo. Nhạc sĩ
La Hối sáng tác nhạc phẩm bất hủ
"Xuân và tuổi trẻ“ v v...
Hội an lui dần vào những ngày trầm
lặng, vua Ðồng Khánh trị vì (1885-1888) nhường Ðà Nẳng năm 1888 cho thực
dân Pháp. Các thương nhân tàu bè cập bến Ðà Nẳng; từ cửa Ðại vào Hội
An lòng sông không sâu tàu lớn khó vào được. Ðà Nẳng từ từ thay thế trên
mọi lãnh vực : thương mãi, quân sự và ngoại giao.
Di
tích Văn Hóa
Năm 1945 Việt Minh chống
Tây chủ trương tiêu thổ kháng chiến, nhà cửa đình chùa đều bị phá hủy,
Nhiều nơi Ðình Miếu bị đập phá còn lại những đống gạch vôi vụn, chỉ còn
nghe nhắc lại địa danh như vườn Chùa, đất Ðình, đất Làng mà thôi.
Cơ quan hành chánh từ La Qua Ðiện Bàn dời về Hội An
trở nên thành phố thương mãi và hành chánh của tỉnh Quảng Nam. Trước năm
1975 Bệnh viện Hội An được chính phủ Cộng Hòa Liên Bang Tây Ðức tài trợ,
có các y tá bác sĩ người Ðức phục vụ, khám bệnh phát thuốc miễn phí.
Hội An ảnh hưởng văn hóa đa nguyên, tổng hợp những
tinh hoa, tiếp xúc văn minh Tây phương đều khởi đầu tại Hội An Quảng
Nam. ( Nho giáo quan niệm nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô ngược
lại Chiêm Thành theo chế độ Mẫu hệ, nhưng người Việt đã dung hòa được
hai quan niệm trên)
Hội An còn lại các
ngôi Ðình Miếu cổ, lưu lại dấu tích lịch sử văn hóa tỉnh Quảng Nam. Ðình
Cẩm Phô ở ngã ba Khổng Miếu, Ðình cây đa Kèn (thời Tây mỗi buổi sáng
đội lính Tây đứng dưới gốc cây đa thổi kèn) nên người ta gọi là cây Ða
Kèn thân to lớn tàng lá xum sê tươi tốt che phủ ngôi đình làng cổ kính.
Ðình làng Cẩn Hà trên đường vào chùa Long Tuyền, Ðình ông Voi trên đường
Lê Lợi..Ðình Cẩm Phô thờ dòng họ của cố văn hào Nhất Linh...
Các Ðình Miếu kiến trúc thường có 3
gian, ba bàn thờ khác nhau, đơn giản nhưng huyền bí, nhiều cột gỗ to
chạm trổ công phu, lợp ngoái âm dương trên nóc có lưỡng long tranh châu
hay cặp rồng chạy dài theo mái, tường xây gạch nung bên ngoài tô vôi.
Theo thời gian rêu phong biến thành màu đen hay xanh đậm. Sân đình có
các tấm bia lớn chạm hình long, hổ, phụng, cẩn các mảnh bằng sứ. Theo
phong tục cổ truyền hàng năm các cụ trong quốc phục khăn đóng áo dài,
cúng Ðình trên bàn thờ có heo quay, xôi bánh, trái cây đủ loại khói
hương nghi ngút, đánh chiêng trống tế lễ.
Chùa Ông Bổn trên chợ Hội An các ngày rằm mùng một,
nhiều người tới cúng xin xăm, trước cửa chùa các thầy bói xem quẻ. Theo
nhà văn Nguyễn Văn Xuân viết :
„ Tiến sĩ Nguyễn Nghiễm là thân phụ thi hào Nguyễn Du
đến thăm viếng ngôi Chùa làm bài thơ khắc trên bức hoành lớn treo trước
chùa. Vua Minh Mạng ngự gía Hội An vào thập niên 20 thế kỷ thứ 19 cho ba
trăm lạng bạc để sửa chữa ngôi Chùa nầy bị hư hại qua thời gian và chiến
tranh. „
Chùa Chúc Thánh do vị danh sư Minh Hải
sáng lập có nhiều nét kiến trúc của Trung Hoa. Năm 1917 hai tăng sĩ trẻ
từ Huế vào thọ Tỳ Keo tại Tổ đình nầy, trong đại giới Ðàn Minh Hải. Sau
nầy hai vị sư đó trỡ thành danh tăng : Ðệ nhất Tăng Thống Thích Tịnh
Khiết và Ðệ nhị Tăng Thống Thích Giác Nhiên của Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam.
Chùa Long Tuyền trù trì cố Hòa Thượng
Thích Chơn Phát. Chùa biệt lập thanh tịnh bên kia cồn cát, chạy dài song
song với phố Hội. Chùa cổ mái thấp nhiều cột, sân lót gạch, hòn non bộ
tuyệt đẹp, nước chảy từ khe núi nhỏ bên cạnh các ông tiên đang đánh cờ,
đàn cá vàng lội tung tăng.
Chung quanh hàng cây xanh làm hàng
rào, cổng tam quan xây gạch tô vôi, hai cánh cửa gỗ lớn dày, phần đất
bên cổng chùa có vài cổ tháp, là mộ phần các vị trù trì tiền nhiệm viên
tịch, những hàng sứ xanh mùa hè nở hoa thơm ngát, xa xa những cây phi
lao vi vu trong gió thoảng. Còn lại dấu tích đường rầy tàu lửa chạy
ngang từ thời Pháp thuộc. (đường rầy bị gở hết)
Cố Hòa Thượng
Thích Long Trí, trù trì Chùa Viên Giác, chùa nằm trên đường chính vào
phố Hội, cổng tam quan với hai cánh cửa sắt, chung quanh được xây tường
bằng xi măng, trước chùa hai hàng dừa xanh tươi. Hai cây đa cổ thụ phủ
bóng mát quanh năm, dãy nhà một tầng lầu tiện lợi cho mùa đông khi nước
lụt lên cao, chính điện rộng, sân Chùa nhiều cây kiểng đẹp. Chùa nầy đào
tạo nhiều danh tăng.(**)
Chùa tỉnh Giáo hội trên đường Trưng
Trắc, bên cạnh là trường Trung học Bồ Ðề phiá trước là bàu rau muống
xanh tươi, có hàng dừa cao chót vót đứng chơ vơ giửa trời.
Tịnh Xá Ngọc Cơ hình bát giác, giữa là
tôn tượng Ðức Phật lớn, Các vị Khất sĩ mặc áo vàng đi chân đất, ôm bình
bát đi khất thực. Các ngày rằm mùng một thường thuyết Pháp qua máy phóng
thanh.
Tôn giáo hòa
hợp,Thánh Thất Cao Ðài cột cờ cao lá Phướng dài tung bay trong gió bên
cạnh bến xe cũ. Giáo đường Thiên Chúa Gíao trên đường Nguyễn Trường Tộ
đối diện sân vận động. không rõ ngôi Giáo Ðường nầy xây cất vào thời
gian nào, nhưng hàng năm Thánh lễ Giáng Sinh không phân biệt tôn giáo,
hàng ngàn người đến tham dự ngày Chúa sinh ra đời, ngoài ra có thêm nhà
thờ Tin Lành tại ngã ba Khổng Miếu
Ðền thờ Khổng Tử (gọi là Khổng Miếu)
có cầu vồng hồ bán nguyệt mùa hè sen nở rất đẹp, chung quanh xây tường
cao trồng dừa, đài tưởng niệm Chiến Sĩ tấm bia hình tháp cao tựa như
chùa một cột, đứng trên hồ sen hình vuông, chung quanh trồng trúc vàng
(xây thời Ðệ Nhất Cộng Hòa 1957)
Các trường trung tiểu học
Hội an có các trường công lập nam và nữ tiểu học,
trung học Trần Quý Cáp, trường nữ trung học. Vì nhu cầu phát triển giáo
dục, lúc đầu có trường tư thục Diên Hồng ngôi trường nầy nhỏ cổ kính,
không thâu nhận được nhiều học sinh, trường trung học Bồ Ðề mở rộng đủ
tiêu chuẩn nhiều học sinh theo học, ngoài ra người Minh Hương có trường
trung học đệ nhất cấp, tên trường lâu không nhớ rõ "trường Lễ Nghĩa" ?
Văn hóa phát triễn theo khoa học các trường trung học tại Hội An đã đào
tạo nhiều danh nhân xứ Quảng Nam
Ðặc
sản
Hội An có những
cây đa, cây bàn cổ thụ hàng trăm năm tươi tốt. Giếng Bá lễ nằm trong con
hẻm người ta thường gọi kiệt Bá Lễ ăn thông qua hai đường Phan Châu
Trinh và Trần Hưng Ðạo, nhờ nước giếng nầy sản xuất loại mì
Cao lầu,
đặc sản nổi tiếng tại Hội An, Cao lầu cũng sản xuất từ bột gạo, nhưng
không đơn giản như Mì Quảng, loại mì nầy phải qua ngâm qua một dung dịch
nước tro (nhà văn Nguyễn Văn Xuân dẫn chứng con cháu Hội An đi nơi khác
không thể nào làm được Cao lầu như tại Hội An).
Mì Quảng, bánh su xê,
tương ớt,
sương xoa (bằng rau câu), bánh in,
bánh tổ, vào Tết Ðoan Ngọ mùng năm 5/5 bán
bánh ú tro nhỏ không nhân, gói bằng lá dong nhỏ, một chùm 12 cái, chấm
với đường cát ăn thơm ngon, nhờ nếp được ngâm vào nước tro thổ sản đặc
biệt. Trong mùa bắp có bắp nấu hay nướng. Mùa hến các ngư dân dọc theo
sông Thu Bồn cào hến, luộc chín bỏ vỏ lấy nước và ruột hến gánh bán
quanh phố, Cơm hến hay canh hến nấu với rau muống rất ngon và hấp dẫn.
Bánh tráng ướt và bánh tráng nướng đập dập chấm nước mắn, Các loại chè:
chè lục tàu xá, đậu xanh đánh, hạt sen vv..chợ Hội An bán nón lá, dưới
gốc cây bàn cổ thụ treo bán guốc gỗ
Năm 1998 Hội An
được khôi phục lại việc thắp lồng đèn trên phố cổ, tạo khung cảnh mới
lạ. Các loại lồng đèn, theo kiểu Trung Hoa, Nhật Bản. Các loại hình quả
nhót, quả bí, khung bằng tre bọc giấy hay lụa màu, hay loại khung gổ
qúy chạm trổ bọc kính vẽ hình màu. Lồng đèn treo trước hiên nhà, cửa
tiệm ánh sáng nhẹ, tạo những nét rất kỳ ảo trên khu phố cổ bằng gỗ hai
tầng.
Nhiều Du khách đến thăm, đem lại sinh
hoạt náo nhiệt và phồn thịnh. Có 600 loại hàng thủ công nghệ bày bán.
Ðẹp nhất là tơ lụa được mọi người ưa thích. Thời gian dù đổi thay 30 năm
qua tôi chưa về tham phố Hội, nhưng tôi tin rằng Hội An vẫn tồn tại
những nét đẹp riêng, không thể đổi thay được nét cổ kính trầm mặc của
nó.
"Nửa
đêm nước ngược về nguồn
Sông Thu trở giấc
lắng buồn Hội An
Mai ngày lỡ bước sang ngang
Ai cho mình thuở Hội
An ban đầu“
Sơn Thu
Nguyễn Quý Ðai
(*) Tài liệu của Nguyễn Phước Tương (Ðất Ngũ Phụng
đặc san xuân Nhâm Ngọ 2002)
Thương nhân Nhật Bản thường mua tơ sống, các hàng tơ
lụa, nhựa chương não, ký nam, đường phèn, da cá, hạt cau khô, sơn sống,
đồ sành sứ..( Chen Chin Ho Phố người Ðường và việc mua bán ở Hội An thế
kỷ 17-18)
Thương nhân Bồ Ðồ Nha mua các loại hàng tơ sống, hồ
tiêu, trầm hương các hàng dệt bằng tơ, hắc đàn, đường, vàng, xạ hương,
quế, gạo nếp.Thương nhân Hòa Lan mua tơ lụa, trầm hương, đường, gạo,
xạ hương, ngà voi, vàng....(Birdwood. Report on the miscellaneous old
the India office)
Thương nhân Trung Hoa mua hồ tiêu, sơn sống, kỳ nam,
ngà voi, tơ sống, trầm hương, thuốc phiện, đường trắng, đường phổi, đồ
gỗ và vàng...( Pierre Poivre Mémoires sur les royaumes de la
Cochinchine et du Camgodge)
(1)Quảng Nam trong
lịch sử trang 37 của Trần Gia Phụng biên khảo Toronto 2000
(2 và 3) Dohamide và Dorohiem Dân Tộc Chàm Lược
sử sđd trang 21 - 22 và 91.
(4) Quốc Sử quán triều Nguyễn Ðại Nam Thực Lục Tiên
Biên 1821
(5) Việt Nam văn hóa sử cương Ðào Duy Anh
(6) Quảng Nam trong lịch sữ trang 23 Trần Gia
Phụng, biên khảo Toronto 2000
(7) Những câu chuyện lịch sử tập 2 sđd trang
212-219 Tràn Gia Phụng Toronto 1999
(8) Người Hoa tại Việt Nam tác giả Nguyễn văn Huy NxB
NBC Paris
(9 )VietNam Annaliese Wulf DuMont Buchverlag Koeln
1995
(**) Thượng tọa Thích Như Ðiển, xuất gia từ ngôi
chùa nầy được Giáo Hội tại Hội An Quảng Nam gởi du học Nhật Bản. tốt
nghiệp Ðại học, sang Ðức tị nạn sáng lập chùa Viên Giác tại Hannover Ðức
quốc.Thượng Toạ Như Ðiển cũng là nhà văn, viết trước tác, dịch thuật
trên 30 tác phẩm, luôn đấu tranh tự do Tôn Giáo cho Việt Nam. Ðào tạo tu
sĩ có trình độ học vấn cao, có nhiều khả năng : viết báo, dịch sách hy
vọng đóng góp cho Văn Học Việt Nam và Ðạo Pháp hải ngoại.
Tài liệu tham khảo
Việt sử xứ đàng trong tác giả phan khoang
Ðại nam thống nhất chí Quốc sử Quán
Việt nam Sử lược tác giả Trần trọng Kim.