|
|
|
Nói chuyện với nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn
Nhạc : Nắng chiều
Nhạc và lời : Lê Trọng Nguyễn
Thơ:
Thuyền trăng chở khách chiến trường lại
Bên bờ thắm lệ chiếc áo nâu
Cờ reo chiến thắng đò xuôi mái
Trăng vui trăng cũng rụng xuống cầu
Qua bến nước xưa lá hoa về chiều
Lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa
Khi đến cuối thôn chân bước không hồn.
Nhớ sao là nhớ đến người ngày thơ !
Anh nhớ trước đây dáng em gầy gầỵ
Dịu dàng nhìn anh đôi mắt long lanh.
Anh nhớ bước em khi nắng vương thềm.
Má em màu ngà tóc thề nhẹ vương.
Nay anh về qua sân nắng;
Chạnh nhớ câu thề tim tái tê;
Chẳng biết bây giờ
người em gái duyên ghé về đâu ?
Nay anh về, nương dâu úa,
Giọng hát câu hò thôi hết đưa,
Hình bóng yêu kiều,
Kề hoa tím, biết đâu mà tìm !
Anh nhớ xót xa dưới tre là ngà
Gợn buồn nhìn anh, em nói : "Mến anh".
Mây lướt thướt trôi khi nắng vương đồi.
Nhớ em dịu hiền nắng chiều ngừng trôi.
Nói chuyện với nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn
Nguyễn Phúc
Lời tòa soạn: Thế hệ văn nghệ sĩ Việt Nam bước vào tuổi
thanh niên thời kháng chiến chống Pháp nay đã ở vào tuổi
"thất thập cổ lai hi". Sự đóng góp và tâm tình của thế
hệ đó, cho đến nay, vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Vì thế, Văn Học đã nhờ nhà báo Nguyễn Phúc, nguyên là biên
tập viên Ðài BBC Luân Ðôn, thực hiện một loạt những cuộc
phỏng vấn các văn nghệ sĩ thế hệ này hiện đang định cư
ở hải ngoại. Mở đầu là bài phỏng vấn nhạc sĩ Lê Trọng
Nguyễn dưới đây.
Từ trên thềm của ngôi nhà nhỏ cạnh đường San Gabriel, thị
trấn Rosemead, người nghệ sĩ ấy, với khuôn mặt chở đầy
dấu tích của năm tháng, của phong trần, của phong sương, của
chịu đựng, đã đón tôi với một nụ cười thật tươi,
thật sáng, với một cái nhìn thật thẳng thắn, thật sắc,
thật lâu: có chút gì thật đặc sắc trong cái tương phản
giữa nét trẻ trung của nét cười ấy, cái nhìn ấy với
những nếp hằn sâu trên trán rộng, những đường nhăn bên
hai mạ Ðiếu thuốc lá đang cháy dở trên tay, anh Nguyễn
ngoắt:
"Vô, vô."
Cái ngoắt tay ấy của một con người từng trải, lịch duyệt,
có vẻ như bất chấp mọi ước lệ trong lối chào hỏi xưa nay
của người mình, cái ngoắt tay thân mật ấy coi vậy mà lịch
sự ra phết.
Mặt đàn dương cầm cũ cũng chở đầy năm tháng như gương
mặt của chủ nhân nó: hai tấm ảnh bán thân đóng khung. Một
của J.S.Bach và một của Beethoven. Cái tủ thấp kê gần giàn
stereo nhỏ đầy dĩa CD nhạc cổ điển tây phương.
"Âm nhạc và anh tình cờ mà gặp nhau. Hay là anh tìm đến âm
nhạc?"
Không một chút lưỡng lự, nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn
đáp:
"Tôi tìm đến âm nhạc. Từ nhỏ, mình sống xung quanh âm nhạc
rồi. Mình hát trong nhà thờ từ hồi nhỏ, cũng nhờ vậy mà
mình biết là mình thích âm nhạc, yêu âm nhac..."
"Anh sớm khám phá ra là anh có khiếu âm nhạc?"
"Biết mình thích âm nhạc thì biết khá sớm nhưng mạcho
đến bây giờ mình cũng không biết là mình có khiếu hay
không?"
"Khiêm nhượng rồi anh nói vậy chứ ai không biết rằng anh
là một nhạc sĩ có tài, thành danh đã từ lâu với rất
nhiều bài được cả nước yêu chuộng, nổi tiếng nhất là
bản Nắng Chiều."
Anh khua tay ngắt lời tôi:
"Bản Nắng Chiều thật ra chỉ là một trong một số bài của
tôi được phổ biến rộng rãi, nhưng mà tôi cũng không thích
nó lắm, dù tình cảm tôi gửi vào đó rất mặn nồng."
"Tại sao ?"
Anh Nguyễn cười phá lên, rất sảng khoáị Rồi im lặng, trầm
ngâm một lúc anh chậm rải đáp:
"Mình cũng không biết vì sao mình không thích bài Nắng Chiều
lắm, dù khi viết xong bản đó mình rất khoái, dù bài đó
rất chững chạc, chững vô cùng, nọcân phương đủ
mặt...Ðây cũng là một loại tâm trạng. Người ta hát nhiều
quá, mình đâm ra ghét. Người ta cứ giới thiệu Nắng Chiều,
Nắng Chiều mà không biết thằng Nguyễn là ai cả."
"Kể cũng không có chi la Có một bản Sonate của Robert Schumann
mà chính nhạc sĩ cũng từng nói là ông không thích chỉ vì bản
đó là bản ruột của danh cầm Clara Schumann. Mà Clara Schumann
như anh cũng đã biết rồi, lại chính là vợ của nhạc sĩ. Ông
thấy thiên hạ tán thưởng bài đó, tán thưởng nghệ thuật
trình tấu của vợ - hình như bài sonate đó khó đánh lắm -
mà không biết đến ông nên ông bực...rồi cũng đâm ra ghét
bản sonate đó. Nhưng mà, để trở lại với sáng tác của anh,
không phải vì có quá nhiều người hát bài Nắng Chiều mà
giá trị nội tại của nó bị giảm đi. Anh viết bài Nắng Chiều
vào năm nào và viết ở đâu ?"
"Tôi viết bản đó ở Huế, thời gian sau khi bỏ vùng kháng
chiến về thành...Tâm sự tôi trong bài Nắng Chiều nó như
thế này, kể anh nghe cho vui. Sau cuộc đảo chính của Nhật vào
đêm 9 tháng 3 năm 45, có một gia đình công chức Nam triều
từ Qui Nhơn chạy ra tạm trú ở Hội An, mà tôi cũng ở Hội an
lúc đó. Gia đình đó có một người con gái. Tôi yêu người
con gái ấy"
"Khi anh về qua sân nắng chạnh nhớ câu thề ...hẳn không phải
là tình câm mà tuyệt vọng?"
"Lúc bấy giờ tôi còn nhỏ còn trẻ mà, đâu 19, 20 gì ó. platonique (lý tưởng) thôi.
Rồi sau đó tản cư, kháng
chiến...có cảm tưởng như mình còn thiếu người ấy một
món nợ. Vì tôi viết bản Nắng Chiều ở Huế nên có nhiều
người lầm tưởng rằng tôi viết cho một người Huế mà
tôi đã yêu. Nhưng sự thật thì như tôi vừa kể, không phải
như vậy. Viết xong bài Nắng Chiều tôi khoái lắm, biết
rằng mình đã trả được món nợ ấỵ"
"Hỏi cho đáo kỳ lý luôn? Biết rằng anh viết bản đó ở
Huế, nhưng mà tại nơi nào ở Huế ?
" Tại cung An Ðịnh."
Cung An Ðịnh được cất riêng cho vua Khải Ðịnh, không thuộc
hệ thống kiến trúc cũ của hoàng thành Huế, nằm bên bờ
sông An Cựu. Cùng với nhiều kiến trúc khác ở Huế, cung An
Ðịnh đã bị Việt Minh đặt chất nổ, phá sập khi họ áp
dụng chính sách tiêu thổ kháng chiến.vào đêm 19 tháng 12 năm
1946.
Từ cổng chính nhìn vào, lúc ấy chỉ còn dãy nhà phía bên
phải, tuy hư hỏng nhưng vẫn còn ở được.Và đó cũng là nơi
mà bà Từ Cung, thân mẫu của Cựu Hoàng Bảo Ðại, đã cư ngụ
sau khi bà hồi cư từ Mỹ Lợi.
"tại sao mà anh lọt vào cung An Ðịnh?"
"Lúc bấy giờ, tôi làm việc ở đài phát thanh Huế, chơi
thân với anh Vũ Ðức Duỵ Anh ta có họ với bà Từ Cung, cũng
nhờ quen anh mà anh đưa tôi qua ở bên cung An Ðịnh...Thật ra
cái ý định viết một bài cho mối tình ở Hội An nó nhen
nhúm lên trong lòng tôi đã từ lâu, nhưng phải chờ có một
tia lửa thịêt âm ỉ ấy nó mới bốc lên được..."
"Và cái tia lửa đó là một người thiếu nữ họ Hoàng, một
thời hoa khôi ở đế đô, có họ với bà Từ Cung...Một chiều, ngồi cạnh hồ sen của cung An Ðịnh, bóng dáng thướt
tha của người thiếu nữ ấy đã gợi cảm cho tôi, đưa tôi
về với mối tình cụ vậy là tôi viết bài Nắng Chiều, đâu có trong vòng nửa tiếng đồng hồ là xong. Thời gian ở
Huế là lúc mà tôi biết chắc là tôi quả yêu âm nhạc thiệt
sự, trước đó viết vớ vẩn vậy thôị"
"Anh học nhạc với ai ?"
"Tôi tự học trong giai đoạn đầụ Lúc bấy giờ tôi tham gia
các phong trào thanh niên đi cắm trại, họp bạn ở tỉnh nhà,
tỉnh Quảng Nam. Ca khúc đầu tiên của tôi là bài Ngày mai Trời
Lại Sáng, tuổi trẻ mà, luôn lạc quan tin tưởng ở tương lai. Tuy là sáng tác đầu tay nhưng mà bây giờ xem lại, tôi thấy
bài đó cũng chỉnh. Sau đó thì đi tản cư. Dạo ấy có cái
buồn cười thế này, có một số anh em yêu thích âm nhạc nói
tôi thảo một bản nhạc như nhạc ngoại quốc, loại hòa tấu mà
không có lời, họ cho vậy là nhạc cổ điên tây phương, tôi
cũng chiều anh em mà có viết một bài đặt tên là Adieu Les
Soirées Intimes.Cái buồn cười là khi bắt đầu viết nhạc,
ưng viết cho khúc mắc, cho khó khăn. Sau này đọc thêm, học
thêm, nghe nhiều mới thấy được cái simplicité (giản dị) mà
đạt được mới là khọ Cũng nhờ một phần vào sinh hoạt
văn nghệ và những cuộc hội thảo về quan niệm sáng tác khi
tôi còn phụ trách âm nhạc cho toàn thể Liên Khu Năm, một đơn
vị hành chánh trong vùng kháng chiến, gồm các tỉnh Quảng Nam,
Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên...Lúc đó, tôi có viết một
bài tên là Binh Nhì Ca, viết cho bộ đội hát chơi mà. Bản
này được tuyên dương. Tôi viết theo lối của tôi, khi tập
cho anh em bộ đội hát, họ hát không được. Tôi sửa lại cho
đúng với cách mà họ thích hát, họ hát được liền. Nhịp
điệu của họ giản dị thôi, mà mình ưng viết cho khó thành ra
họ hát không được. Có gì đâu."
"Anh tự ý sửa hay là ai bảo anh sửa ?"
"Tôi tự ý sửa. Vì lúc đó mình nghĩ mình viết cho bộ đội
mà, không phải cho riêng mình. Cho nên tự ý sửa, không có đau
lòng chi cả. Bộ đội hát được, mình cũng vui vậỵ"
"Có bao giờ anh phải viết một bài theo chỉ thị của cấp trên không?"
"Tuyệt đối không. Tôi tuyệt đối chống lại cái gọi là
nhạc đột kích, nghĩa là loại bài hát mà người ta khuyên anh
cứ nên làm sẵn trước, chờ một phong trào, chiến dịch, đại hội nào đó, đúng lúc sẽ tung
ra. Tôi chống cái chuyện đó lắm. Tôi làm nhạc là vì tôi thích thôi, trong số những
bài tôi viết hồi đó có bản Bài Ca Của Ðoàn Văn Nghệ, lời
của Tôn Thất Mạnh Hào, anh Mạnh Hào hiện vẫn còn sống ở
ngoài Bắc, làm thơ hay lắm, bút hiệu là Hạo Nhiên.Tôi viết
là tôi décharger một điều gì đó trong tôi. Tôi không có lý
luận gì cả."
Tôi thầm mến cái ngay thẳng thật thà của con người xứ Quảng nàỵ Anh không quên những kẻ đã góp phần vào sự
nghiệp của chính mình. Mến là vì, xung quanh mình, không riêng
gì trong âm nhạc, mà trong nhiều bộ môn, lĩnh vực khác nữa,
số người có khả năng nhận vơ đếm không hết.
"Bạn văn nghệ cũ của anh từ thời kháng chiền gồm những ai,
nay còn những aị" "Ở Liên Khu Năm, lúc ấy có anh Phan Huỳnh
Ðiểu, tác giả bài Có Một Ðàn Chim, anh Văn Ðông. Về sau họ
ra Bắc cả. Có hai anh em anh Dương Minh Ninh và Dương Minh Hòa. Anh Ninh không biết nhiều về nhạc lý nhưng mà trời phú cho
cái khả năng ghi nhận nhạc điệu. Thời đó, đi xem ciné, nghe
được một bài nào mà anh thích là anh ghi lại không thiếu
một nốt. Anh Ninh có viết bài Trai Ðất Việt. Anh lớn hơn
tôi chừng bốn năm tuổi, chuyên về cổ nhạc, vọng cổ, hiện
còn sống ở Việt Nam. Anh Hòa có lúc phải đi vùng Kinh Tế
Mới, bây giờ sống lây lất ở Việt Nam, đi dạy nhạc vớ
vẩn, thỉnh thoảng có làm những bài hát thiếu nhi."
"Những người bạn văn nghệ đó, có ai chỉ dẫn thêm gì cho
anh về nhạc lý không?"
"Không. Nhưng mà lúc bấy giờ tôi có cái may mắn tìm được
một tủ sách, trong đó có sách nhạc lý của một trường công
giáo ở Chương Hòa, Tam Quan, Bình Ðịnh. Tôi dạy học ở đó.
Nhờ vào tủ sách đó mà tôi tự học thêm về harmonie (hòa âm)
về contrepoint (đối điểm)...Vì tự học nên tôi học mà không
có làm bài tập..."
"Sau contrepoint rồi đến composition (soạn nhạc) phải không anh?"
"Ðúng vậy, mãi về sau này, khi vào thành rồi, tôi mới học
composition. Nhưng có cái buồn cười là lúc đó, mình chưa học
composition mà lại viết nhạc, viết được có lẽ nhờ mình nghe
nhiều, sống nhiều với âm nhạc. Cũng như có nhiều người
có học luật lệ gì về thi ca đâu nhưng mà vẫn làm thơ, vẫn làm được
thơ. Riêng trong âm nhạc, tôi nghĩ muốn viết cho vững, tối thiểu phải học harmonie, nó giúp cho mình chấm
câu dứt đoạn. Người sáng tác nhạc ít nhất cũng phải biết
hòa âm. Thiếu kỹ thuật đó, nhạc phẩm không có được mạch
lạc chặt chẻ.
Các nhạc sư Pháp cho rằng âm nhạc là sự vận chuyển của tâm
trạng và tư tưởng. Sự vận chuyển này được tạo ra bởi
hai trạng thái động và tĩnh. Có nghĩa là căng thẳng (tension)
và buông dãn (détente). Ðể dễ hiểu, khi nghe một bài vọng
cổ, đến đoạn nói lối (có khi kéo dài đến hàng trăm chữ), có lúc tiết điệu và âm điệu đang tạo sự căng
thẳng, người nghe nín thở chờ đợi, chờ đợi gì, chờ đợi sự buông dãn của âm Hò chấm câu, là lúc cả rạp vỗ
taỵ Lúc này là lúc âm nhạc chủ động, lời văn của bài ca là
thứ yếu, chỉ có âm Hò họa điệu (chute) để cho người nghe
thở phào. Có tiết điệu trống (rythme masculin), tiết điệu
chiều ý người nghe theo nét nhấn (accent) của nhịp ấn định.
Và tiết điệu mái (rythme féminin) là tiết điệu đưa lệch
nét nhấn mà người nghe chờ đợị Ðấy là một vài chi tiết của composition.
Sau khi vào thành rồi, tôi bắt đầu học thêm khóa hàm thụ
với Ecole Universelle ở bên Pháp. Tháng tháng gửi mandat-poste
cho họ, theo học cours de composition. Sau khi học xong tôi được
chấp nhận là hội viên của SACEM Hội Nhạc sĩ Pháp. Lúc bấy
giờ tôi quyết tâm đeo đuổi ngành nhạc."
"Nhưng mà nhạc có nuôi nổi anh không?"
Thoáng một nét cười khá chua chát qua một hơi khói thuốc lá
có đầu lọc, hít rất dài, hãm rất kỵ
"Không. Lúc mới ở kháng chiến về tôi đi dạy vớ vẩn. Lúc
bấy giờ ở Ðà nẵng, có gia đình ông Huỳnh Sau, con cái đều chơi nhạc giỏi cả, trong nhà có đủ dương cầm vĩ cầm.
Giống như gia đình ông Henri Richard ở Huế vậỵ Tôi chơi thân với gia đình đó, họ giới thiệu cho tôi dạy vớ vẩn,
thỉnh thoảng họ cũng nhờ tôi làm partition. Thỉnh thoảng cũng
có tham dự những hoạt động âm nhạc trong thành phộ Dạo ấy
tôi có viết bài Vác Ðàn Ði Ðâu và bài liên khúc nhịp ba
(suites des valses) Sóng Ðà Giang, Ðà Giang đây là sông Thu Bồn
ở Quảng Nam. Tôi gửi bài đó cho chương trình của ông Ðan
Trường bên Pháp và được phổ biến ngaỵ"
Vào những năm đầu thập niên 50, đài Pháp-Á vẫn cho phát
thanh lại một chương trình tiếng Việt thu thanh trước ở Paris, của ban Nhạc Ðan Trường, nội dung thường xoay quanh sinh
hoạt của Việt Kiều ở nước Pháp. Chương trình dài 30 phút
được phát thanh lại vào trưa chủ nhật mỗi tuần, một phần
nào thỏa mãn được cái tò mò của người trong nước đối
với cuộc sống của bạn đồng hương ở Pháp. Ngày nay, hơn
bốn mươi năm sau, nhiều nơi trên thế giới đã có tiếng
nói vọng về quê hương, nhưng có lẽ không có đài nào có
một câu mở đầu bằng một lời rất lãng mạn, rất trữ
tình, dài dòng mà dễ thương như chương trình Ðan Trường dạo ấy:"Muôn dặm xa xôi, quan san cách trở, tưởng nhớ đến
quê hương cho nên anh em chị em chúng tôi mượn nghệ thuật âm
thanh để bắc cầu liên lạc với tổ quốc..."
Dài dòng thật, chả bu nhưng mà thì giờ thời bấy giờ có
vẻ như chưa phải là tiền bạc.
"Tại sao anh bỏ kháng chiến?"
"Dạo ấy em gái tôi đau nặng. Ði kháng chiến cực khổ quá,
mẹ già xoay ra buôn bán vớ vẩn. Nhà tôi ở Bồng Sơn lúc đó
là một cái trạm liên lạc của anh em văn nghệ sĩ, ai đi ngang
cũng ghé vào nhà ăn cơm. Sống cực khổ quá, tôi nghĩ đến
chuyện về thành, bán nhà cửa đi học tiếp. Cực khổ quá,
mình ở không nổi thì bỏ đi thôi, chứ không có bất mãn chuyện chi
cả.Lúc đó bộ mặt cọng sản của Việt Minh chưa
lộ hẳn. Phong trào đấu tố lúc đó chỉ mới được phát
động đâu ngoài Bắc thôi, chứ ở Liên Khu Năm chưa có. Vào
trong này, định đi học lại nhưng hoàn cảnh kinh tế của gia
đình lúc đó cũng đã khác, không cho phép mình tiếp tục học
nữa."
"Trước 75, dù đã sống với Việt Minh, anh không có kinh nghiệm đau thương với cọng sản, tại sao sau ngày mệnh danh là
giải phóng anh lại bỏ đi qua đây ?"
"Hồi tháng Tư năm 75 mình
không có ý định đị Lúc bấy giờ thật ra đầu óc mình không có ý thức chính trị gì cả, cứ nghe nói có ba thành
phần nọ kia. Mãi cho đến ngày 28, một người bạn Mỹ, làm
thuyền trưởng một chiếc tàu của SeaLand gửi cho tôi mấy
chữ tàu đang chờ gia đình anh mà rồi tôi cũng không đi. Tôi nghĩ đem vợ con qua Mỹ lấy gì mà sống, làm gì mà sống,
trong khi đó thì ở Saigon mình có sẵn cơ sở rồi, không giàu có gì nhưng mà sống được. Riêng bản thân mình cũng không
có liên hệ với một đảng phái chính trị nàọ Tôi nghĩ có thể có được một cuộc sống ...bình thường. Nhưng mà mơ
ước tầm thường vậy mà rồi cũng không ở được với Việt Cọng. Mãi tháng 3 năm 83 tôi mới qua đâỵ ...ít lâu sau ngày Việt Cọng chiếm miền Nam, tôi có gặp lại anh Nguyễn
Xuân Khoát ở Saigon. Anh vào Nam, hỏi Phạm Trọng Cầu về tôi, biết tôi còn ở lại Sài gòn, anh tìm đến nhà thăm tôị Tâm
sự hàn huyên xong, anh khuyên tôi nên tìm cách đị Nguyên văn
câu nói anh Khoát như thế này:'Cậu đi đi, không ở được đâu.
"
"Anh quen nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát từ hồi nàọ"
"Từ hồi tôi còn học ở Hà Nộị Khoảng năm 42 cho đến năm 45."
Cái ngày đầu tiên quen biết nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát có lẽ
không quan trọng bằng cả một thời kỳ sống ở Hà Nội trong
những năm tháng nhiều biến cố lịch sử khắp nước. Cái
đầu đã hói ấy hơi cúi xuống trong một dáng suy nghĩ như đang cố ôn lại những hình ảnh cụ Im lặng một hồi,
anh tiếp:
"Tôi quen anh Khoát từ hồi anh còn đàn ở quán Tân Nghệ Sĩ
ở Bờ Hộ Tối tối, tôi vẫn ra Tân Nghệ Sĩ nghe nhóm nhạc
sĩ này đàn. Có cả nhạc sĩ vĩ cầm Nguyễn văn Diệp. Cái quán Tân Nghệ Sĩ nổi tiếng này nằm cạnh hàng kem Zéphyr,
tức là hàng kem của cô Cúc."
"Chắc cô Cúc này phải là một trong nhiều thiếu nữ đẹp ở
Hà Thành nên đến hơn nửa thế kỷ rồi mà anh còn nhớ tên."
"Thật ra tôi cũng không biết nữa, nhưng tôi nhớ là vì sau
này cô lấy ông Phạm Văn Ðồng. ...Như tôi vừa nói, hàng kem
Zéphyr nằm cạnh Quán Nghệ Sĩ là nơi tôi gặp và quen anh
Nguyễn Xuân Khoát. Anh Khoát cũng có đàn ở Taverne Royale nữạ
Hồi đó ngoài Hà Nội còn có một phòng tra nữa tên là
Tuyết Sơn, vì hay lui tới phòng trà đó mà tôi biết hai nhạc
sĩ vĩ cầm, đó là hai anh Lê Ngọc Châu và Ðỗ Thế Phiệt.
Các anh Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Nguyễn Thiện Tơ lúc
đó tôi cũng đã biết tiếng, nhưng họ ở lớp đàn anh, lớn
hơn tôị Sau này vào Saigon rồi, tôi mới quen anh Dương Thiệu
Tước và Thẩm Oánh. Thật ra thì anh Nguyễn Xuân Khoát cũng
hơn tôi đến 10 tuổi, nhưng mà tôi biết anh Khoát một phần
cũng qua liên hệ công giáọ
Những năm tháng sống ở Hà Nội hẳn đã để lại nhiều kỷ
niệm vui trong đời, nên anh Nguyễn thao thao về những mẩu
chuyện vụn vặt, hết chuyện này sang chuyện khác. Sống ở
Hà Nội mấy năm "học ít chơi nhiều", đổi chỗ ở lung lung,
lang thang hết nơi nay đến nơi khác, có lúc vào ở ngay trong
đại học xá, tại khu dành cho sinh viên trường Kiến Trúc "dù
mình chưa lên đại học". Tại đó anh đã gặp bạn đồng hương
là anh Vương Quốc Mỹ, người vẽ kiểu cho lăng "Bác". Nghe anh
vui vẻ thú nhận là mình học ít chơi nhiều, tôi hỏi:
"Anh có đóng đô ở Khâm Thiên không?"
"Không, dạo ấy mình còn trẻ quạ Tôi chưa bao giờ nghe hát ả
đào, nghe ca trù ở Khâm Thiên cạ Ðối với một người
Việt Nam làm nhạc, đó là một thiếu sót."
"Chuyện vui buồn của một thời lãng du, một đời lãng tư"
"Nhiều lắm. Nhưng mà vừa nhắc đến anh Nguyễn Xuân Khoát... có một chuyện mà bây giờ những người liên hệ trong đó
đã chết cả rồi tôi mới dám nóị Hồi 45-46, ở Hà Nội có
ban nhạc kịch Anh Vũ, có vào Huế và Hội An trình diễn vở
Tục Lụy của Khái Hưng, Lưu Hữu Phước viết nhạc. Trưởng
đoàn nhạc kịch lúc đó là anh Võ Ðức Diên, ngoài ra còn có
các anh Thế Lữ, Văn Chung, Bùi Công Kỳ,Nguyễn Xuân Khoát và
một số các anh khác nữa, tôi không nhớ hết. Lúc ban kịch
Anh Vũ vào đến Quảng Nam thì ở tại Ðà Nẵng. Từ Ðà Nẵng
vào Hội An phải qua một khúc đường 30 cây số mà lúc ấy
lại đúng vào mùa lụt lộị Kịch thì dự định diễn ở Hội
An , làm thế nào để chở dương cầm từ Ðà Nẵng vào Hội
An? Vì quen với anh Khoát từ trước ở Hà Nội, anh Khoát nhờ
tôi phụ trách việc đọ Kết quả là có đàn cho ban kịch Anh
Vũ, nhưng cái khám phá ...bên lề chuyện đó là trong khi tìm
cách vận chuyển cây đàn, anh Khoát nói với tôi là ở Hội
An có một nhóm Hoa Kiều theo Trùng Khánh, tức là theo phe
Tưởng Giới Thạch. Trong số có anh La Hối, tác giả bài Xuân
Vàụ Tuổi Trẻ, đã bị Quân đội Nhật sát hại cùng với l2
người Hoa Kiều khác. Lúc đó tôi mới biết rằng phần lớn
các anh trong ban Anh Vũ nếu không phải là đảng viên thì cũng
có cảm tình với Việt Nam Quốc Dân Ðảng.Trong chuyến đi Hội
An kỳ đó, hình như họ có nhiệm vụ liên lạc gì đó với
Quốc Dân Ðảng Trung Hoa là vì Hội An tuy nhỏ nhưng lại có
một chi bộ lớn ở hải ngoại của phe Tưởng Giới Thạch.
Chính vì cái liên hệ đó mà anh Thế Lữ, khi nghe anh La Hối
bị Nhật giết, mới cảm động mà đặt tên và lời ca cho bản
nhạc của La Hối, bài Xuân Và Tuổi Trẻ như chúng ta biết ngày
naỵ Trước đó, nó không có lời Việt Nam. Một người Việt
ở tận ngoài Hà Nội, một người Hoa Kiều ở trong Quảng Nam
này, hai người đâu có hề quen biết nhaụ Chuyện cũng ngoài
năm mươi năm nhưng trước đây vì sợ anh Nguyễn Xuân Khoát và Thế Lữ bị cọng sản trù nên tôi không dám nói rạ Bây
giờ cả hai anh đều qua đời cả rồị".
"Bạn thân nhất của anh là aị"
"Phạm Ðình Chương. Chỉ có Phạm Ðình Chương thôị Hoài Bắc
là một người có tâm hồn lắm. Một tri kỵ"
"Hai anh có khen nhau không? Có chê nhau không?
"Mỗi đứa sáng tác một đường. Không có phê bình nhau chi cạ Xem nhạc của nhau, đứa nào viết ...sạch sẽ là được
rồị"
Nói đến đây,anh khẽ chép miệng.Thoáng một nét buồn. Ðôi
mắt lơ đãng nhìn theo làn khói thuốc. Phải rồi, khi người
ta trót mang trong cái biệt nghiệp của mình chút nợ cầm ca, ai
là người không tự thấy rằng mình vay cuộc đời nhiều mà
trả không được mấỵ Mất đi một người hiểu được tâm
hồn mình ở vào cái tuổi bắt đầu vào thu, cái tuổi mà chỗ giao du lác đác như những chiếc lá trong gió lạnh đầu
mùa, nói như Tùng Thiện Vương, lòng ai mà lại không se đôi
chút.
"Có chuyện này nữa, có liên hệ đến anh Nguyễn Xuân Khoát.
Trong thời kỳ chiến tranh, trong số những tài liệu mà quân
đội mình bắt được của Việt Cọng, có một tập nghiên
cứu nhạc dân gian, nhạc cổ truyền cả ba miền, tác giả là anh
Nguyễn Xuân Khoát, phần nghiên cứu về cổ nhạc miền Trung
có nhắc đến công trình của anh Nguyễn Hữu Bạ Dạo ấy,ông
Lữ Liên có được tài liệu đó trong taỵ Ðưa cho một sĩ
quan trong ngành Tâm Lý Chiến. Ông sĩ quan này đưa tập tài liệu đó cho ai thì tôi không biết, nhưng mà sau này có một
ngườịkể như mạo nhận là của mình, dùng tài liệu đó
để viết về dân ca ba miền, nói rằng đó là công sưu tập
của mình, mà không nhắc chi đến anh Khoát hay anh Ba cạchuyện cũng đáng buồn Ông Lữ Liên biết rõ chuyện này
lắm. anh muốn biết thêm nữa thì tìm gặp ông Lữ Liên."
"Tội chi mà anh buồn cho nó mệt cái thân, cho nó nhọc cái xác
Trong thiên hạ thiếu chi người có trí nhớ phi thường như
Trương Tòng, đọc Mạnh Ðức Tân Thư của Tào Tháo có một
lượt mà thuộc lòng ngay, vậy mà mà khi dùng đến những điều mình nhớ kỹ thì lạíquên' ghi xuất xự Ngoài anh
Nguyễn Xuân Khoát ra, anh có gặp ai ngoài Bắc vào sau 75 không?"
"Anh Văn Caọ Trong một đêm sinh hoạt hết sức thú vi"
"Xin nghe"
"Sau 75 một hôm anh Lê Thương tìm đến nhà tôi nói có anh Văn
Cao ở Hà Nội mới vàọ Bắc Nam gì không kể, anh Văn Cao là
một nhạc sĩ có tiếng, mình cũng nên tính chuyện tiêp rước
cho vui vẹ Lúc bấy giờ tụi này nghèo lắm, may có một người bạn tên là Bá Châu, có nhà in ở đường Lê Lai, thích
âm nhạc, nhà lại có đàn dương cầm. Anh bạn này bảo tụi này
cứ mời anh Văn Cao còn chuyện ăn uống, nhậu nhẹt anh ta bao
hết. Vậy là chúng tôi đón tiếp vợ chồng anh Văn Cao ở đó.
Hôm ấy có anh Lê Thương và Phạm Ðình Chương, nay chết cả rồi, ngoài ra có chị Thái Thanh, anh Nguyễn Xuân Nghĩa hiện
vẫn còn ở tại Mỹ nàỵ Cả anh Nghiêm Phú Phi nữạ Mình kéo anh
Nghiêm Phú Phi đến là để đệm cho chị Thái Thanh hát. Ðêm
hôm ấy, chị Thái Thanh hát toàn nhạc của Văn Cao. Chị Văn Cao
chảy nước mắt nói:"Em lấy anh suốt đời, hôm nay mới được nghe nhạc anh như thế nàỵ"
"Vậy trước đó, người ta không cho nghe nhạc của Văn Cao ở
ngoài Bắc chăng?" "Có, nhưng mà ý chị Văn Cao muốn nói trong
mấy chục năm ở ngoài Bắc, cũng có nghe nhạc của chồng,
nhưng không được hay như lần nghe chị Thái Thanh hát hôm ấỵ
Có rượu vào anh Văn Cao cao hứng ngồi vào dương cầm, ngâm
một bài thơ mà tôi không nhớ, chỉ nhớ đại ý nóịkhông
nên bắn tổ chim. Anh Nguyễn Xuân Nghĩa có xin ghi lại, nhưng
anh Văn Cao có ý ngạịkhông chọ Trong không khí thân mật và
cởi mở ấy, chị Văn Cao tiết lộ một vài điều cũng...đau
lòng. Anh có biết là anh Văn Cao bị Ðỗ Nhuận phang không?"
"Nghĩa đen hay nghĩa bóng?"
"Bóng gị Ðỗ Nhuận đánh anh Văn Cao bị thương. "
"Tại sao vậỵ"
"Lần đánh Văn Cao thì lý do tôi không nhớ rõ. Nhưng thực
sự thì Ðỗ Nhuận ganh tỵ với Văn Cao là nguyên nhân sâu kín. Anh Văn Cao là tác giả bài Tiến Quân Ca, được chọn làm
quốc ca từ thời Việt Minh. Thật ra nếu không có bài đó thì anh Văn Cao cũng tiêu
rồi. Nhờ bài đó, mà sau khi dính vào vụ NhânVăn Giai Phẩm, anh bị đì thì có bị đì mà không
đến nỗi thiệt mạng. Hôm ấy, nhắc đến Ðỗ Nhuận chị
Văn Cao chỉ biết lắc đầu. Sau đó mấy hôm người ta gọi anh
Văn Cao ra Bắc vị liên lạc với văn nghệ sĩ ngụỵ"
"Bản nào anh ưng ý nhất trong số các tác phẩm của anh?"
"Cũng khó nói. Chỉ kể cho anh nghe hoàn cảnh rất thú vị khi
tôi viết bản Sao Ðêm. Lâu lắm rồịtôi viết bản đó bên
đèn tiên nâu của thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Hôm ấy tôi đi chơi
về khuya, gặp một anh bạn tên Hoàng thổi saxo trong dancing Hòa
Bình, gần nhà hàng Thanh Thệ Hoàng rủ tôi đi ăn khuya ở Phan
Ðình Phùng. Khúc phía dưới, chỗ gần Vườn Chuối có một
cái quan mở cửa rất khuya, bọn anh em ca nhạc sĩ "ru đời" xong
vẫn kéo nhau đến đấy ăn miến gà, bánh cuốn. Nhưng mà tới nơi thì quán đã chật, mà bạn tôi thì lại đang đến
giờ cần cơm đen. Tôi kéo Hoàng vào gõ cửa nhà thi sĩ Vũ hoàng Chương gần đấỵ Lúc ấy cũng đã gần hai giờ sáng.
Ông Vũ Hoàng Chương hỏi tôi:"Nguyễn, giờ này còn lò mò đi
đâu đâỵ" Tôi đáp:"Bạn tôi cần thuốc phiện." Ông Vũ Hoàng
Chương, mặc bộ đồ bà ba, tay ôm con mèo nhỏ, chỉ cài bàn
đèn, để cho hai anh em tôi hoàn toàn tự do sử dụng. Ông vào
ngủ tiếp. Trong khi bạn tôi hút thì tôi nhìn ngọn đèn dầu
lạc mà nẩy ra cái ý sao đêm. Do đó mà có bài Sao Ðêm. Mấy
chữ "trời sao chín mọng" là những viên thuốc nho nhỏ mà ông
Vũ Hoàng Chương để sẵn cho tụi này trên bàn đèn."
"Anh có hút nhiều không?"
"Nhiều lần thì có. Trong bối cảnh cần thiết của bạn bè.
Nhưng mà không ghiền."
"Anh sống có phóng đãng lắm không? Trụy lạc không?"
Một chuỗi cười vang lên giữa căn phòng im lặng,có thứ ánh
sáng mờ mờ cùa một buổi sáng nhiều sương.Anh Nguyễn cười rất lớn, rất đã, đến chảy cả nước mắt.
"Phóng đãng có. Trụy lạc có. Nhưng mà chỉ có hại cho mình
thôi. Không làm phiền đến ai cả. Lúc bấy giờ tôi làm ra
tiền cũng khá dễ dàng. Ðêm nào cũng đi vũ trường...."
"Cái lối sống ấy có giúp ích gì cho sáng tác của anh không?"
"Có chự Nó là một phần của cái cachet mà tôi muốn tự tạo
cho mình. Và tôi nghĩ rằng tôi đã tạo được cái cachet đó
trong nhạc phẩm của tôị" Trong những nơi mà anh đã từng sống trong nước, chỗ nào
làm cho anh quyến luyến khác thường, nói theo một bài tập
đọc trong Quốc Văn Giáo Khoa Thự"
"Huế"
"không phải Quảng Nam à ? Không phải chỗ quê hương đẹp
hơn cả ?" "Tôi không có tinh thần địa phương. Ai nói những
chuyện như thằng đó Huế, thằng đó Bắc tôi không thích.
Nhạc của tôi cũng vậỵ Tôi không chú ý đến dân tộc tính,
tộc tiếc gì cả. Không bao giờ tôi tự đặt cho mình cái mục
đích là nên viết cho ra Việt Nam, cho ra Pháp..."
"Xin phép đưa anh về với sông Hương núi Ngư Tại sao anh thích Huể"
"Là vì tôi đã Sống (anh nhấn mạnh chữ sống) nhiều, yêu
nhiều, khổ nhiều ở đọ Huế cũng là nơi mà tôi có nhiều
người bạn rất thương tôi. Tôi yêu phong cảnh ngoài đó lắm.
Nhất là sinh hoạt trên giòng sông Hương. Dạo ấy có khi hàng
tháng tôi ở lì dưới đò. Sáng, đò cập bến cho mình đi
làm ở đài phát thanh, trước Morin, chiều lại xuống đò"
"Bạn anh ngoài Huế"
"Nhiều lắm. Có các anh Tôn Thất Cảnh, anh Vũ Ðức Duỵ Anh Vũ
Ðức Duy là người đưa tôi đến trú ngụ ở cung An Ðịnh.
Trong số các anh em nhạc sĩ ngoài đó, tôi quen các anh Nguyễn
Hữu Ba, Lê Quang Nhạc, anh Vang thổi saxo ở đài phát thanh, anh
Văn Giảng, anh Vĩnh Phan. Anh Vĩnh Phan có một tâm hồn rất nghệ sĩ, còn ngón đàn tranh của anh thì thôi hết nói,tuyệt.
Anh Văn Giảng, tác giả bài Ai về Sông Tương tôi chơi thân
lắm. Văn Giảng giỏi lý thuyết âm nhạc. Có một dạo Văn Giảng
được học bổng đi học nhạc ở Hawaiị Khóa học hai năm, nhưng
mà mới có một năm thì anh về v` nhớ nhà quá. Văn Giảng có tâm hồn lắm. Con người ấy, gắn bó với quê hương như
vậy chắc là không sung sướng trong cuộc sống lưu vong tại
bên Úc hiện naỵ"
"Còn anh?"
Thêm một điếu thuốc nữa.
Anh cau mày suy nghĩ lung lắm.
"Từ ngày qua đây tôi cảm thấy mình già, lỗi thời. Cảm thấy mình già rồi, không làm gì được nữạ Cũng có lúc
sáng tác. Nhưng nhiều khi lại tự hỏi viết cho aị Tôi xưa
lắm anh ơị Những cảnh trước mắt làm tôi bực mình. Cuộc
sống vật chất ở đây làm mình bỡ ngỡ kinh hoàng. Những
giá trị cũ trong nước, qua đây hình như vứt đi cạ Viết cho
khuây khỏa, nhưng cũng khuây khỏa một phần nào thôị Xoay sang
đọc sách đủ loại, đặc biệt sách nhạc tôi đọc cũng nhiềụ
Buồn. Con cái lớn nó dọn đi cả rồị Bạn bè xung quanh cũng
không còn được mấỵ Già rồi, dù không đau yếu chi nhưng
mà sức khỏe cũng có kém..." Thoáng trong đầu, hai câu thơ
của Nguyễn Du than thở về cái cảnh đường còn dài mà ngày
đã tàn, bạn bè mới lại không có mấy, trong khi đó thì chứng bệnh cũ lại tái phát, ngồi một mình trong căn phòng
đầy khí lạnh ngày xuân (trường đồ nhật mộ tân du thiểu,
nhất thất xuân hàn cựu bệnh đạ). Con vài chuyện nữa định
hỏi, nhưng mạthôị khơi thêm một vài mẩu chuyện cũ có thể là vui đấy, nhưng mà cái tâm sự ấy Tôi hiểu rồị
Tôi với tay tắt cái máy ghi âm.
Uống nốt chén trà đậm đã nguội.
xuquang.com
Van Nghe Si Quang Da
Hai Hoai |