TRÀ KIỆU TRONG TÔI
Nguyễn Viết Bình
Tôi biết, từ thuở khai sinh cho
đến mã
i mãi về sau, Trà Kiệu luôn sống
và cố tình nuôi dưỡng để
sống với đức tin tôn giáo của mình,
trong đó có ơn Ðức Trinh Nữ Maria ban cho
vào những ngày Trà Kiệu còn phôi thai. Tôi cũng
biết khi nhắc đến biến
cố tháng 9, năm 1885, một biến cố mà
toàn thể Trà Kiệu ngày nay ôm ấp như dấu
chỉ được lòng thương xót Chúa ban,
thì cũng phải nhắc đến
những năm tháng đau khổ mà bà con cả
Tỉnh Quảng Nam cùng chung chịu với Trà Kiệu.
Những mất mác, những chia rẽ, những ân
oán xưa đã làm buồn lòng nhau không ít. Hôm nay
Trà Kiệu rất vui mừng khi thấy mọi chuyện
như đã thay đổi. Ðình Ngũ Xã
ở Hoàng Châu đang được
mọi nơi, mọi người hợp lực tái
tạo. Ðó là việc làm chính đáng mà mọi
con dân Trà Kiệu đang cố
công đóng góp. Với niềm tin ấy, Trà Kiệu
nhắc đến Văn Thân trong biến cố 1885
như một biến cố tôn giáo, trong đó Trà
Kiệu nhìn thấy đức tin của mình
được thể hiện, hơn là những oan
trái do bất cứ nơi nào mang đến.
Xin hiểu cho được như vây, tôi xin tiếp
tục viết về Trà Kiệu mà không sợ
hàm oan.
Trà Kiệu xưa và nay đang sống
dưới hào quang tôn giáo với Ðức Mẹ
Maria, ngoài ra chẳng có gì để nói. Những tượng
Chàm, những điêu khắc quý giá, thì nay đã
cao bay xa chạy đến những nơi danh tiếng
hơn, như Paris chẳng hạn. Bức thành Chàm
ở phía Nam, xây dựng để
bảo vệ kinh đô thì nay đã thấp lè
tè, ngang với mặt ruộng lúa, thấy gì lạ
đâu. Con suối Hố Diêu ở phía Tây, lúc
ấy nên thơ bao nhiêu, nay nhìn khô cạn đến
tiêu điều, thảm não. Trà Kiệu có gì đâu
so với một Thi Lai trù phú, tiếng dệt lụa
đêm đêm còn vang vọng trong tâm trí tôi. Trà Kiệu
có gì đâu so với tơ tằm Mã Châu và các cô
gái Mã Châu đẹp vì không phải nắng mưa
trên ruộng lúa mà phải ở nhà nuôi tằm, giăng
tơ. Trà Kiệu có đồng lúa trù phú bao la,
đem cơm áo cho dân khắp vùng, thì nắng mưa
dãi dầu đã làm các bà các cô bớt đi phần
nhan sắc.
Trà Kiệu còn lại ngọn Ðồi
Bửu Châu, đây là hãnh diện cuối cùng của
Trà Kiệu. Trà Kiệu rất tiếc là đã mất
đi ngôi thánh đường
cỗ kính, di tích của ơn cứu giúp của Ðức
Trinh Nữ Maria trên đỉnh
đồi. Nhưng thôi, tôi tin rằng các kiến
trúc hôm nay, một ngôi nhà thờ hình tam giác, dự
trù cao đến 79 thước, mà nay mới xây
được có 30 thước,
không có tường chung quanh để gió lộng
ở cao độ có thể tung hoành, theo sơ đồ
của cố kiến trúc sư danh tiếng Ngô Viết
Thụ, người đã vẽ sơ đồ cho
Dinh Ðộc Lập năm nào của thời Ngô
Ðình Diệm, cũng đủ để
thu hút lòng tôi và các đồng bào của tôi.
Tôi nghĩ tôi phải nói nhiều về ngọn
đồi nầy, vì đây là hảnh diện của
tôi, người con Trà Kiệu có thể gọi là mất
gốc, vì đã phải xa Trà Kiệu từ hồi
còn tí teo. Ðồi Bửu Châu đẹp
lắm, cao độ vừa phải, lối 70 thước,
và nay vừa mới được giáo xứ
Trà Kiệu xây lại 124 bậc cấp đi lên bằng
đá hoa, láng nhưng không trợt.
Dưới chân đồi là các cảnh trí đẹp
mắt như một công trường rộng lớn
với cỏ quý xanh tươi, để làm nơi
tổ chức các lễ nghi tôn giáo lớn, với hồ
sen, cây kiểng, cá chậu.
Chung quanh lưng chừng đồi là cây cối
um tùm, ngợp bóng mát. Các cặp tình nhân đã mau
thấy được cảnh thiên đường
ở đây, khiến cho nhiều lúc giáo xứ Trà
Kiệu bối rối khi phải cố gắng duy
trì cảnh trang nghiêm của nơi thờ phượng.
Mời các anh chị em cùng tôi về
Quảng Nam một lần nữa. Lần nầy xin
theo tôi về Trà Kiệu. Nhớ thời còn đi học,
những dịp hè, tôi cũng có năm
ba người bạn mới đất Huế, theo tôi
về thăm Xứ Chàm của tôi. Ăn uống ngủ
nghỉ thoải mái. Hít thở không khí trong lành của
đồng ruộng bát ngát chung quanh nhà ông cụ
tôi. Sau nầy, vào những ngày đại
hội 29, 30, 31 tháng 5 hằng năm, Trà Kiệu
đông lắm. Nghe nói công trường dưới
chân Núi Bửu Châu đông nghẹt là khách
hành hương. Cả làng Trà Kiệu không còn đất
chen chân. Họ về đây để thờ kính Ðức
Trinh Nữ Maria, Người đã làm phép lạ
cứu Trà Kiệu khỏi bị tàn phá. Họ về
đây để tạ ơn Mẹ
của họ. Họ về đây để uống
cụm nước lã xin ơn từ cái giếng
rất bình thường nằm cao hơn 70 thước
cách mặt đất ngay trên đỉnh Ðồi Bửu
Châu, sát bên nhà thờ. Ðứng trên đỉnh
Ðồi nầy, xuyên qua cánh đồng
lúa bát ngát phía Nam, ta sẽ thấy đoàn tàu
lửa màu xanh lá mạ chở hàng ngàn khách hành hương
từ từ đáp ga Trà Kiệu. Cũng thế,
quay mặt về hướng Ðông, hướng Ngã
Ba Nam Phước, ta sẽ thấy đoàn đoàn xe
đò từ Ðà Nẵng hay Tam Kỳ, hay tận Cà
Mau, lũ lượt nối đuôi về Trà Kiệu.
Khuông viên làng có hơn cây số vuông, nhưng lòng
con dân Trà Kiệu to hơn gấp bội, nên bao
nhiêu "nhân khẩu" đều
được ân cần mời gọi. Free ăn,
free ở, để mọi khách hành hương có
đủ thì giờ lo việc đạo đức.
Nghe nói tháng 5, năm 1995, kỷ niệm 110 năm ngày
Ðức Mẹ hiện ra tại Trà Kiệu, có hơn
30 ngàn người về đây. Và như thế
năm nào cũng vậy.
Trà Kiệu cũng còn chút hãnh diện
phụ ở lịch sử tiến hoá của mình.
Ngôi nhà thờ chính của Trà Kiệu nằm trên một
thửa đất bằng phẳng, khánh thành từ
sau ngày biến cố Văn Thân. Ngôi nhà thờ nầy
đã được xây đi
xây lại nhiều lần dưới nhiều triều
đại linh mục của Hội Thừa Sai Paris.
10 cột bên trong to, 2 người lớn ôm
không hết, cửa chính, cửa sổ gổ sồi
nặng không thể nào mở nổi, nếu bạn
không có người phụ. Gạch, cement nhập cảng
tít từ bên Pháp Quốc. Tiếc thay, ngôi thánh
đường hôm nay quý vị nhìn thấy lại
là sản phẩm của bao nhiêu sai lầm Nó ọp
ẹp, rung rinh. Chưa mưa đã dột. Chưa nắng
đã nứt. Nhưng thôi, tôi phải bằng lòng
vì làm sao sửa chữa
được quá khứ. Tôi chỉ xin hiện tại
nên học bài học của hôm qua. Ấn tượng
mạnh nhất cho nhiều anh chị em chúng tôi là
ngôi trường Tiểu Học, mang tên thánh nữ
Têrêxa, vị thánh ẩn tu, chết rất trẻ
vì bệnh lao phổi, mà là vị đại thánh,
tiến sĩ của giáo hội công giáo. Trường
nằm trong khung viên nhà thờ chính. Trường
cũng chịu luật tiến hoá của vũ trụ,
mở lớp 1, rồi mở lớp 2 và tiếp tục
đến lớp 5 tiểu học.
Cho đến trước năm 1975, trường
đã là cái nôi yêu thương cho tuổi trẻ
Trà Kiệu. Tôi biết được, không thiếu
những anh chị em các xã lân cận đã cùng
chúng tôi lớn lên trong khung cảnh yêu thương
đầm ấm của trường làng Têrêxa nầy,
với các dì phước áo chùng đen, mà tuổi
trẻ chúng tôi vẫn chọc ghẹo là quạ
đen.
Ngày nay, tôi không hiểu rõ guồng
máy quản trị năng lượng
tại Trà Kiệu. Nhưng thấy như là
nhà thủy điện Duy Sơn 2, nằm tuốt trên
núi cao của dãy Trường Sơn, đang
cung cấp điện lực cho Trà Kiệu. Ban đêm
Trà Kiệu sáng choang. Khung viên nhà thờ Núi đã
được giáo quyền Ðà Nẵng nâng lên làm
Trung Tâm Thánh Mẫu của giáo phận Ðà Nẵng -
nơi thờ phượng Ðức Trinh Nữ Maria, Người
đã hiện ra trên nóc nhà thờ chính vào những
ngày 10 và 11 tháng 9 năm 1885
để giúp Trà Kiệu sống sót trước những
đợt tấn công bằng đại pháo của
Văn Thân. Nơi đây nay lại càng sáng hơn,
vì hình như có ai đó bên trời California đã
ủng hộ ngân quỹ lớn để
giúp giáo xứ tăng cường điện cao thế
để Trung Tâm nầy sáng sủa hơn. Có lẽ
tận ngoài Ðà Nẵng cũng có thể thấy
đèn Trung Tâm Thánh Mẫu Trà Kiệu. Vui lắm khi
nhìn lại được cảnh thái bình.
Thái bình bao giờ cũng đi
đôi với thịnh vượng. Chợ Trà
Kiệu cũng là cái hảnh diện lẻ loi của
đứa con Trà Kiệu lạc loài nầy. Tôi
đã đi chợ Trà Kiệu, chợ Cầu Chìm,
chợ Quận, chợ Nam Phước. Tôi không so
sánh, nhưng tôi vui vì thấy đây là cửa khẩu
tốt nhất cho các thôn xóm nằm phía Tây và phía
Nam Trà Kiệu, gần núi hơn gần tỉnh thị.
Ðây là nơi cung cấp trăm ngàn thứ nhu yếu
phẩm hằng ngày cho bà con xa xôi đó. Trà Kiệu
trở nên sầm uất hơn xưa. Tôi không muốn
dài dòng với chuyện chợ búa nầy hơn nữa.
Ðọan cuối, tôi
muốn quay lại chuyện tôi đã thưa
ở những giòng chử đầu bài. Tôi muốn
xin thưa rằng ngày nào Trà Kiệu không còn hãnh diện
về ơn Ðức Mẹ hiện ra trên nóc nhà thờ,
ngày đó Trà Kiệu không còn là Trà Kiệu nữa.
Sự hãnh diện đó phải
được nhìn dưới con mắt tôn
giáo, hơn là con mắt lịch sử. Họ muốn
nói đến Ðức Mẹ của họ, tuyệt
nhiên họ không bao giờ muốn khơi lên nhóm tro
tàn của máu cùng nước mắt. Ước mong
chương trình tái thiết lại Ðình và khuông
viên Ðình Ngũ Xã tại Hoàng Châu sẽ xoá bớt
đi phần nào phân hoá bấy lâu. Và Trà Kiệu
nhất định sẽ là thành viên sốt sắng
của chương trình đoàn kết yêu thương
nầy.
Nguyễn Viết Bình,
Garland, Texas: 4, 2001