space gif
left jpg
xq-lightblue logo
Home arrow Địa Linh Nhân Kiệt arrow Danh nhân xứ Quảng arrow Hoàng Diệu (1829 - 1882)
Wednesday, 29 March 2017
 
 
Home
Văn Học
Văn Hóa
Sử Địa
Địa Linh Nhân Kiệt
Mỹ Thuật
Âm Nhạc
Bài Đăng Trong Tuần
Diễn Đàn
Forum-RSS
Cùng tác giả/chủ đề
Chọn Template
xq-lightblue
Hoàng Diệu (1829 - 1882) | Print |  E-mail
Written by Hoàng Lê   
Sunday, 17 August 2008

Hoàng Lê

 

tuongdong-hoangdieu.jpgHoàng Diệu (1829 - 1882)



Hoàng Diệu, còn gọi là Hoàng Kim Tích (1829-1882) sinh trong một gia đình nhà nho ở thôn Xuân Đài, xã Phú Tân, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (Theo phả họ Hoàng thì gốc từ Huệ Trì, huyện Quang Minh, phủ Nam Sách, đạo Hải Dương. Cụ tổ vào lập nghiệp ở vùng Kỳ Lam truyền được mười đời, gốc họ Mạc). Hoàng Diệu là đời thú bảy, thân phụ mất sớm, thân mẫu đảm đang tần tảo làm ruộng chăn tằm, nuôi bảy người con ăn học thành tài. Anh là Hoàng Kim Giám đỗ cử nhân, làm đốc học rồi án sát. Mất năm 1885.

Hoàng Diệu học rất giỏi, mười sáu tuổi đã nổi tiếng văn thơ, hai mươi lăm tuổi đỗ phó bảng khoa Qúy Sửu (1853). Làm quan ở Bình Định, Thùa Thiên rồi ở Phúc Yên, Nam Định, Bắc Ninh và Hà Nội vơí chức vụ Tổng Đốc. Khi làm quan, Hoàng Diệu nổi tiếng là người liêm khiết, thẳng thắn hết lòng vì dân, kiê quyết chống tệ nạn tham nhũng (xem tấm bia đá dựng năm Tự Đức thứ 34 (1881) ở cửa Ô Quan Chưởng đầu phố Hàng Chiếu Hà Nội sẽ rõ). Hoàng Diệu đã được khen "chăm lo cho dân bắc Hà, ngoài Hoàng Diệu ra không ai hơn". Dân thời ấy thường truyền tụng, đời riêng ông hết sức thanh bạch, trong nhà không có tiền bạc và với ông không ai dám đến cửa công để kêu xin việc tư. Ông có bà mẹ rất trong sạch, lúc làm quan có lần ông gửi về cho mẹ một vóc lụa, bà mẹ không nhận, gửi trả lại cho con kèm theo một nhánh dâu, tượng trưng cho ngọn roi để cảnh cáo đứa con rằng đừng nhận qùa cáp gì của dân.

Là con người học rộng tài cao, đức độ sáng ngời, bước vào cuộc đời hoạt động chính trị trong thời kỳ đất nước dân tộc ta đứng trước những sóng gió thử thách quyết liệt, và chính ông lại là người đứng ở nơi mũi nhọn với trọng trách lớn lao.

Như chúng ta đã biết, sau cuộc tiến công vào Đà Nẵng năm 1858, mặc dầu vấp phải sự chống trả quyết liệt, thực dân Pháp vẫn quyết tâm xâm chiếm toàn bộ nước ta. Sau khi chiếm được Nam Bộ, năm 1873 quân Pháp tiến ra Bắc Bộ tấn công thành Hà Nội. Mặc dù phong trào kháng chiến vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ, triều đình Huế đã ký với Pháp hoà ước 1879 nhượng đứt sáu tỉnh Nam Bộ, và cam kết theo chính sách ngoại giao của Pháp, còn Pháp trả lại bốn tỉnh Bắc Bộ chúng chiếm được. Thực dân Pháp không trọng tín nghĩa như ảo tưởng của Tự Đức và triều đình, khi làm xong việc thăm dò lực lượng, chúng rút về củng cố căn cứ ở Nam Bộ để sẵn sàng tiến ra chiếm Hà Nội và toàn bộ đất Bắc.
Việc đó đã xảy ra năm 1882 lúc Hoàng Diệu đã làm Tổng Đốc Hà Nội gần được 3 năm, và đã nhiều lần dâng sớ lên Tự Đức đề nghị việc chuẩn bị chống giặc, nhưng Tự Đức chỉ lặng thinh. Mùa xuân Nhâm Ngọ, khi Henri Rivière đem binh thuyền ra Bắc, từ Hải Phòng lên Hà Nội đóng quân ở Đồn Thủy, uy hiếp thành Hà Nội, Hoàng Diệu xin triều đình phái thêm viện binh, đồng thời hạ lệnh giới nghiêm và thông báo đi các tỉnh để kịp đề phóng, Tự Đức lúc này hạ chiếu qưở trách Hoàng Diêu đem binh dọa giặc và xử lý không thích hợp. Bọn quan chức chủ hoà thực chất là bọn phong kiến khiếp nhược đầu hàng lại đề nghị mở cửa thành cho quân Pháp ra vào tự do, và triệt binh để cho chúng khỏi nghi ngờ. Mặc dù Tự Đức và phái chủ hoà gây bao khó khăn, Hoàng Diệu vẫn kiên quyết chiến đấu. Ngày 24-4-1882 Rivière hạ tối hậu thư buộc Hoàng Diệu phải ra lệnh cho quân đội rời khỏi thành, sau khi hạ hết khí giới và mở cửa thành, đòi ông và các quan văn võ trong thành phải nộp mình cho chúng.
Không chờ thư phúc đáp, ngày 25-4 Rivière cho tàu chiến nã đại bác vào thành và cho quân tiến đánh. Quân chúng đông như kiến, súng gầm như sấm vang. Hoàng Diêu lúc này tuy đang bị bệnh vẫn dẫn đầu quân lính chiến đấu ngoan cường, giết được hàng trăm tên giặc :

Tiêm cừu nổi giận xung quan
Quyết rằng không kể chi loài chó dê
Lửa phun súng phát tứ bề
Khiến loài bạch quỉ hồn lìa phách xiêu
Bắn ra nó chết cũng nhiều
Phố phường nghe thấy tiếng reo ầm ầm
Quan quân đắc chí bình tâm
Cửa đông, cửa bắc vẫn cầm vững binh

( Chính Khí Ca )

Mặc dù quân địch có ưu thế áp đảo về binh khí kỹ thuật và tuy bị bọn chủ hoà reo rắc không khí thất bại hoang mang, cuộc chiến đấu bảo vệ thành Hà Nội có thể không sớm kết thúc đau đớn nếu như không có bọn phản động làm nội ứng cho giặc. Tôn Thất Bá, một người trong Hoàng tộc, tìm cách chạy ra khỏi thành báo cho giặc biết cách bố phòng của quân ta, và một tên gián điệp còn làm nổ một kho thuốc súng trong thành. Vụ nổ này làm cho quân sỹ hoang mang giao động như bài Chính Khí Ca đã chỉ rõ :

Không ngờ thất ý tại ta
Rô ràng thắng trận thế mà thua cơ.
Nội công rắp những bao giờ
Thấy kho thuốc cháy ngọn cờ ngả theo


Trong cảnh khói lửa mịt mùng ấy Hoàng Diệu bình tĩnh đi về trong dinh, rồi sau khi khăn áo chỉnh tề, tay cầm thanh gươm tuốt trần, ông nhảy lên mình voi xông pha mưa đạn đi tới hành cung. tại đây ông viết di biểu gửi triều đình. Đây cũng là những lời tâm huyết ông gửi mọi người, gửi hậu thế. Rồi lấy chiếc khăn xanh đang bịt trên đầu treo mình lên cành cây tuẫn tiết đúng giờ Ngọ nhằm ngày 8-3 năm Nhâm Ngọ, tức ngày 25-4-1882.
Hoàng Diệu được đông đảo sĩ phu, nhân dân Hà Nội và Bắc Hà khâm phục thương tiếc. Cùng với Nguyễn Tri Phương (người lãng đạo quân dân Quảng Nam đã anh dũng giữ thành và tuyệt thực để giữ tròn danh tiết), Hoàng Diệu được thờ trong đền Trung Liệt trên gò Đống Đa với câu đối :

Kia thành quách, kia non sông, trăm trận phong trần còn thước đất
Là trời sao, là sông núi, mười năm tâm sự với trời xanh


Mộ phần Hoàng Diệu được em trai là Hoàng Chấn và các con Hoàng Tuấn, Hoàng Hiệp đưa về quê an táng (1882) giữa cánh đồng lúa xa xóm làng, giữa hai con sông Thu Bồn và Bà Rên. Mộ được trùng tu lần thứ hai vào năm 1998, khang trang hơn, trên một khuôn viên rộng 1.600m².

 


Năm 1982 là năm kỷ niệm lần thứ 100 ngày Hoàng Diệu tuẫn tiết. Sở VH-TT Quảng Nam-Đà Nẵng và xã Điện Quang (quê hương của Hoàng Diệu) tổ chức lễ tưởng niệm long trọng. Ông Nguyễn Đình An, Giám đốc Sở VH-TT lúc ấy đọc diễn văn nói về thân thế, sự nghiệp và đánh giá cao cuộc đời của Hoàng Diệu luôn luôn vì dân vì nước, cái chết của ông là cái chết sáng ngời trung nghĩa.
"Nhìn lại thời kỳ bi hùng này, lúc mà cuộc sống của dân tộc đầy đau thương và quật khởi, chúng ta nhận thức sâu sắc rằng ông cha chúng ta qủa không thiếu người giầu nhiệt huyết yêu nước, giàu ý chí quật khởi.
Nhưng chính là vì nước ta hồi đó chưa có một giai cấp mới, đại diện cho một lực lượng sản xuất xã hội tiến bộ, chưa có một đường lối cách mạng đúng đán, nên tất cả các cuộc chiến đấu, khởi nghĩa đều bị thất bại, đều bị dìm trong máu...".

Theo Lê Minh Quốc viết ở Tạp chí Xưa Nay số 49B - tháng 3/1998, thì Hoàng Thị Lệ là con gái Tổng Đốc Hoàng Diệu, lấy ông Phan Trần phó bảng, tri phủ Diên Khánh sinh ra Phan Khôi.

Chú Thích :

Sĩ Phu Bắc Hà điếu ông :

Cô thành độc thủ chích thân đan
khảng khái như công thế sở nan
cựu lục thiên thu truyền liệt tiết
cô thần nhất tử kiến trung can
thân sinh tử nhất tâm do qúy
nghịch tặc dương niên cốt dĩ hàn
Thiên tái Nùng Sơn tiêu chính khí
Anh hùng đáo xứ lệ tương can.


Dịch nghĩa :

Cô thành chống giữ một mình thôi
Khảng khái như ông được mấy người
cựu lục nghìn năm gương tiết dọi
Cô thần một chút tấm trung phơi
thân sinh ngày nọ tâm còn thẹn
Nghịch tặc năm nay sợ rụng rời
Nhìn thủa Nùng Sơn nên chính khí
Anh hùng đến thế lệ cùng rơi.
 
 
< Prev   Next >
 
Top! Top!