space gif
left jpg
xq-lightblue logo
Home arrow Văn Hóa arrow Giáo Dục arrow Một đại học đẳng cấp quốc tế Việt Nam vào năm 2020?
Wednesday, 13 December 2017
 
 
Home
Văn Học
Văn Hóa
Sử Địa
Địa Linh Nhân Kiệt
Mỹ Thuật
Âm Nhạc
Bài Đăng Trong Tuần
Diễn Đàn
Forum-RSS
Cùng tác giả/chủ đề
Chọn Template
xq-lightblue
Một đại học đẳng cấp quốc tế Việt Nam vào năm 2020? | Print |  E-mail
Written by Hoàng Xuân Đài   
Sunday, 19 March 2006

Một đại học đẳng cấp quốc tế Việt Nam vào năm 2020?

Hoàng Xuân Đài


The illiterate of the 21st century
will not be those who cannot read and write,
but those who cannot learn, unlearn and relearn.

Alvin Toffler, nhà tương lai học


Tóm tắt

1. Đề cương giúp Việt Nam xây dựng Đại Học đẳng cấp quốc tế của ông Thomas Valley, Giám đốc chương trình Việt Nam của Đại Học Harvard

2. Giáo dục Việt Nam dưới cái nhìn của ông Hoàng Tuỵ qua bản kiến nghị :”Chấn hưng, cải cách, hiện đại hoá giáo dục“

3. Những khó khăn trong quá trình xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế tại Trung Quốc

4. Lý thuyết giáo dục như một đầu tư với vốn là con người

5. Thay lời kết: đã đến lúc xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế tại Việt Nam chưa?

*

***

1. Giáo dục Việt Nam dưới cái nhìn của ông Thomas Valley, Giám đốc chương trình Việt Nam của Đại Học Harvard [1] 

Trong chuyến thăm Mỹ tháng 6 năm 2005, ông Phan Văn Khải, Thủ tướng Cộng Hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đã đề nghị một số trường Đại Học (ĐH) hàng đầu của Mỹ giúp Việt Nam xây dựng ĐH đẳng cấp quốc tế. Đáp lại yêu cầu này, Ông Thomas Vallely, Giám đốc chương trình Việt Nam của ĐH Harvard, đã soạn thảo một đề cương trích dẫn sau đây:

.. Bản đề cương này gồm có bốn phần. Phần đầu tiên phân tích một cách ngắn gọn những thách thức chính mà nền giáo dục đại học của Việt Nam đang gặp phải. Phần hai xem xét những cấu thành của một hệ thống giáo dục đại học hiện đại và những nguyên tắc quản lý cơ bản quyết định tới sự thành công của hệ thống giáo dục đại học. Phần ba chỉ ra những lựa chọn về chính sách của Việt Nam. Phần cuối cùng đề xuất chiến lược xây dựng một trường đại học mới, hàng đầu cho Việt Nam...


1.1. Giáo dục đại học ở Việt Nam: Sự cần thiết phải thay đổi


...Ngày nay, vấn đề trực tiếp nhất của giáo dục đạ̣i học bắt rể từ cơ chế quản lý các trường đại học có tính tập trung và xơ cứng:

• Các trường đại học của Việt Nam hầu như không có quyền tự chủ. Nội dung chương trình về cơ bản được áp đặt từ trên xuống, và vì vậy các trường gần như không thể, hay không có động cơ cải tiến và đa dạng hóa chương trình.

• Các cuộc thi tuyển sinh và yêu cầu tốt nghiệp được áp đặt từ bên trên.

• Ở cấp độ thể chế, hệ thống quản lý đại học vốn không thân thiện với những sáng kiến mới là một lực cản đối với các truờng đại học của Việt Nam. Nói chung, việc đề bạt giảng viên không căn cứ vào năng lực và tài năng.

• Lương thấp đã buộc nhiều giảng viên phải chạy việc thêm ở ngoài, và do vậy giảm động cơ và khả năng đầu tư thời gian cho các hoạt động phát triển chương trình và chuyên môn. Một điều quan trọng là bối cảnh này đã ngăn cản những nhà khoa học của Việt Nam được đào tạo từ nước ngoài trở về nước để cống hiến cho đất nước.

• Các vấn đề về dân số cũng đặt thêm gánh nặng lên hệ thống. Trong chưa đầy 15 năm qua, số lượng sinh viên đại học đã tăng khoảng 10 lần. Hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam chưa được chuẩn bị để đáp ứng một cách thỏa đáng cho sự gia tăng sinh viên này....Ngày nay, vấn đề trực tiếp nhất của giáo dục đại học bắt rể từ cơ chế quản lý các trường đại học có tính tập trung và xơ cứng:


1.2.  Cơ chế quản lý – Cơ sở của các nền giáo dục ưu tú

Những nguyên lý cơ bản được chắt lọc từ kinh nghiệm của các trường đại học ưu tú của Mỹ về cơ chế quản lý hiệu quả bao gồm: 

Tính độc lập: Ở cấp độ thể chế, trường đại học phải có quyền tự quyết trong việc lựa chọn chương trình giảng dạy, các biện pháp tài trợ, và các hoạt động khác.

Không gian học thuật: Các học giả phải được tự do theo đuổi những nghiên cứu khoa học mà không bị cản trở hay can thiệp thô bạo nào từ bên ngoài. Ngay cả những phân tích có tính phê phán cũng phải được chấp nhận một khi nó giúp soi sáng vấn đề. Những sai sót trong học thuật không cần tới “kỷ luật” có tính hành chính vì một khi  được xuất bản, nó sẽ được các học giả khác kiểm định lại.

Chế độ trọng dụng nhân tài: Thăng tiến phải phụ thuộc vào tài năng chứ không phải vào thâm niên hay các tiêu thức phi học thuật khác. Nguyên tắc này không chỉ áp dụng đối với giảng viên và những người điều hành mà còn đối với việc lựa chọn sinh viên. Không làm được điều này sẽ đẩy người giỏi đi chỗ khác vì họ là những người lưu động và có nhiều lựa chọn nhất về việc làm.

Ổn định về tài chính: Tiền là quan trọng, đặc biệt trong một hệ thống quản lý tốt. Tài chính nên được huy động từ nhiều nguồn, từ nhà nước cũng như từ bên ngoài. Điều này giúp kết nối trường đại học với những người thụ hưởng sản phẩm cuối cùng của nó – đó là những cơ quan tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp của trường. Nếu làm được điều này thì sẽ có đủ nguồn tài trợ, với mức độ chắc chắn cần thiết trong dài hạn để phục vụ cho các kế hoạch hợp lý và các hợp đồng dài hạn với giảng viên.

Trách nhiệm giải trình: Trường đại học phải có trách nhiệm giải trình trước các bên hữu quan. Hội đồng quản trị (được thảo luận trong § 1.4. dưới đây) là một cơ chế phổ biến nhằm đẩy mạnh trách nhiệm giải trình. Với những thành viên được chọn lọc từ những đại diện xuất sắc của cả khu vực công và tư, hội đồng quản trị của trường đại học đóng vai trò như Ban giám đốc trong việc hình thành tầm nhìn dài hạn cũng như thực hiện các chức năng giám sát.


1.3.  Các lựa chọn của Việt Nam

Nói một cách khái quát, nền giáo dục đại học của Việt Nam hiện nay có ba lựa chọn:

• Phục hồi các trường đại học hiện có.

• Hình thành các chi nhánh hay các đơn vị vệ tinh của các trường đại học nước ngoài.

• Xây các trường đại học mới hoàn toàn.

Trên thực tế, Việt Nam sẽ cần phải thực hiện cả ba chính sách này. Chúng tôi cho rằng lựa chọn thứ ba – xây mới một trường đại học chất lượng cao, đóng vai trò như một hình mẫu và vườn ươm vốn con người – là đặc biệt quan trọng. Kinh nghiêm cho thấy rằng việc cải cách các trường đại học hiện có là một quá trình lâu dài khi sự cố thủ của các nhóm lợi ích sẽ dần dần bị trung hòa. Các trường và cơ sở đào tạo của nước ngoài có thể rất hữu ích nhưng chắc sẽ không thể thực hiện vai trò của một trường đại học nghiên cứu.

...Việc phát triển một trường đại học hàng đầu của Việt Nam cần được tiến hành song song với việc cải tổ toàn bộ hệ thống giáo dục. Một điều rõ ràng là những thay đổi từ từ, có tính chất tiệm tiến là không thích hợp. Tri thức đang được mở rộng theo cấp số nhân. Việt Nam càng muốn duy trì hệ thống hiện tại với những thay đổi không đáng kể thì sẽ lại càng gặp nhiều khó khăn trong việc đẩy mạnh phát minh sáng chế phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của mình.


1.4.  Lộ trình tiến tới xây dựng một trường đại học hàng đầu ở Việt Nam

Cơ hội

Chương trình Việt Nam thuộc trường Harvard đã tiến hành tham khảo ý kiến của một số trường đại học hàng đầu của Mỹ, và các trường này đều bày tỏ nguyện vọng có tính lâm thời rằng sẽ tham gia một cách nghiêm túc trong việc xây dựng một trường đại học hàng đầu ở Việt Nam. Cũng cần phải nhấn mạnh rằng việc nhận được sự tham gia của những trường như thế này không hề dễ dàng. Những trường này không bao giờ dễ dãi trong việc hợp tác liên kết với các đối tác bên ngoài, và không hiếm các trường và quốc gia khác muốn có được sự hỗ trợ của họ. Trên thực tế, ở khu vực Đông Nam Á, chỉ có Singapore là đã thành công trong việc hợp tác với các trường đại học hang đầu của Mỹ. Những trường đại học hàng đầu này không hề có ý định đầu tư vào việc mở trường ở nước ngoài. Họ có thể đóng vai trò cố vấn và đối tác về học thuật trong những nỗ lực xây dựng một trường đại học mới của Việt Nam. Để tranh thủ được sự ủng hộ của những trường đại học xuất sắc của Mỹ thì chính phủ Việt Nam cần phải thể hiện sự cam kết mạnh mẽ đối với dự án đại học này.

Sự cam kết này gồm có hai yếu tố. 

• Thứ nhất là cam kết về tài chính. Chúng tôi cho rằng trường đại học chất lượng cao cần một khoản ngân sách là 100 triệu USD[2]  trong vòng từ 5-10 năm. Như đã lưu ý ở § 1.2, ở một trường đại học hàng đầu, không nên kỳ vọng vào khả năng trang trải hoàn toàn chi phí hoạt động của trường từ tiền học phí. Việc tìm được tài trợ từ nguồn tư nhân và công cộng là rất cần thiết.

• Khía cạnh thứ hai của sự cam kết là chính phủ Việt Nam cần tuyên bố một cách dứt khoát ý định tổ chức trường đại học mới này theo những nguyên lý về quản lý như đã được trình bày trong § 1.2. Đảm bảo không chấp nhận thỏa hiệp đối với các nguyên tắc học thuật là điều kiện tiên quyết thiết yếu cho sự tham gia của các trường tinh hoa. Điều này không hề đòi hỏi sự rút lui hoàn toàn vài trò của nhà nước. Trái lại, nhà nước chiếm một vị trí quan trọng trong giáo dục đại học như người cung cấp tài chính và tạo lập khuôn khổ chính sách cho các trường đại học hoạt động. Trong trường hợp của Việt Nam, cần có sự chuyển dịch cơ bản trong vai trò của nhà nước, từ người điều hành trực tiếp sang một hình thức giám sát hạn chế hơn. Chẳng hạn, tuyệt đối không nên ràng buộc trường mới bằng những hạn chế chặt chẽ của hệ thống nhân sự hiện thời. Trường này phải được phép tuyển chọn giảng viên trên cơ sở thành tích họ đạt được và đãi ngộ theo mức lương cạnh tranh quốc tế. (Điều kiện cuối cùng này có thể nên đi kèm một số hình thức đãi ngộ về thuế thu nhập.)  Tất nhiên, những cơ chế mới này sẽ phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp lý của Việt Nam. Tuy nhiên, cũng có thể phải ban hành một số quy định mới.

Khái niệm

Một số trường đại học nước ngoài khác (như Đại họcThanh Hoa ở Trung Quốc, Viện Nghiên cứu Cao cấp Hàn Quốc) đã sử dụng các chuyên gia giảng dạy và nghiên cứu nước ngoài hay liên kết với các trường đại học lớn hơn để một mặt bù đắp được kỹ năng mà họ thiếu, mặt khác có thể khắc phục được tính hẹp hòi, cục bộ của các nhóm lợi ích trong nước. Vì vậy, việc Việt Nam đi tìm những hình thức hợp tác tương tự cũng là một điều hợp lý. Tuy nhiên, không một trường đại học nước ngoài nào có thể đơn phương đảm nhiệm vai trò là đối tác duy nhất trong nỗ lực thành lập một trường đại học hàng đầu ở Việt Nam. Vì lý do này, chúng tôi đề nghị cách tổ chức theo mô-đun, trong đó mỗi trường đại học của Mỹ chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng một nhóm chuyên ngành.

Những hoạt động khời đầu

Chúng tôi tin rằng bước đi hợp lý đầu tiên sẽ là thành lập một tổ chức đặc biệt với hai đồng chủ tịch bao gồm một học giả lỗi lạc của Mỹ và một nhân vật xuất chúng của Việt Nam. (Trong khuôn khổ của bản Đề cương này, chúng tôi sẽ đề cập tới nhóm này dưới tên gọi “Uỷ ban đặc biệt về giáo dục của Thủ tướng” với nhận thức rằng tên gọi chính thức của nhóm sẽ do Chính phủ Việt Nam chỉ định. Chẳng hạn, ủy ban quốc gia về giáo dục do Thủ tướng làm chủ tịch có thể rất thích hợp với nhiệm vụ này). Vị đồng chủ tịch người Mỹ sẽ là một người giàu kinh nghiệm trong việc cộng tác với các trường đại học ở ngoài nước Mỹ. Vị đồng chủ tịch người Việt Nam sẽ phải là người am hiểu về giáo dục. Tuy nhiên, vì sự khách quan và khả năng nhìn nhận vấn đề với con mắt phê phán là điều cực kỳ quan trọng đối với dự án này nên chúng tôi đề nghị vị đồng chủ tịch người Việt Nam không nên là người hiện đang giữ các chức danh quản lý trong hệ thống quản lý giáo dục hiện nay. Tất nhiên trong Uỷ ban này sẽ có đại diện của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của Uỷ ban đặc biệt về giáo dục của Thủ tướng sẽ là tập hợp sự lãnh đạo của trường đại học mới. Các thành viên của Ủy ban này sẽ hợp tác với nhóm tích hợp hệ thống để hình thành nhóm các trường đại học thành viên và thiết kế cấu trúc tổ chức cho trường đại học mới. Kinh nghiệm từ nhiều trường hợp khác nhau gợi ý rằng ban đầu nên bổ nhiệm những nhà quản lý học thuật nước ngoài vào những vị trí lãnh đạo quan trọng. Có thể xem xét cấu trúc trong đó hiệu trưởng là một học giả hàng đầu của Việt Nam hoặc một nhà lãnh đạo cao cấp của nhà nước đã về hưu, còn chức danh hiệu phó do một học giả giàu kinh nghiệm của Mỹ phụ trách. Lý tưởng nhất là chức danh hiệu phó này được giao cho một người đã từng làm chức danh quản lý tương tự ở một trường đại học hàng đầu của Mỹ.  

Một điều cần thiết nữa là nên sớm thành lập hội đồng quản trị. (Một số thành viên của hội đồng có thể nằm trong Uỷ ban đặc biệt về giáo dục của Thủ tướng). Hội đồng quản trị, một biểu trưng của hệ thống quản lý trường đại học công và tư của Mỹ, có nhiệm vụ giám sát các hoạt động của trường. Hiệu trưởng nhà trường báo cáo trực tiếp với hội đồng quản trị. Cơ chế này giúp đảm bảo trách nhiệm giải trình và tuân thủ luật pháp, đồng thời bảo vệ trường khỏi các can thiệp quá sâu từ phía các cơ quan quản lý nhà nước và những ảnh hưởng khác từ bên ngoài. Hội đồng này có thể bao gồm một số nhà lãnh đạo nhà nước đã về hưu, các học giả Việt Nam và Mỹ, và những nhà doanh nghiệp xuất sắc. Chúng tôi tin rằng cần thành lập một nhóm cố vấn đặc biệt bao gồm các học giả nước ngoài với nhiệm vụ cố vấn cho các vấn đề học thuật như chương trình, các ưu tiên trong nghiên cứu, và bổ nhiệm giảng viên.

Uỷ ban đặc biệt về giáo dục của Thủ tướng và ban lãnh đạo của trường đại học mới sẽ phải giải quyết một số vấn đề then chốt trong những giai đoạn đầu của dự án. Không thể có một trường đại học hàng đầu chỉ trong một sớm một chiều, và vì vậy ngay từ ban đầu cần phải xác định được một thứ tự ưu tiên. Cần phải xây dựng kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng với chất lượng quốc tế. Và một điều hiển nhiên là các vấn đề về học thuật quan trọng hơn nhiều so với cơ sở vật chất. Một trong những quyết định đầu tiên sẽ là quyết định về những loại hình đào tạo của trường đại học mới. Để thu hút được những giáo viên giỏi nhất, trường cần phải được trang bị các phương tiện nghiên cứu cần thiết ngay từ đầu. Còn đối với hoạt động giảng dạy, có lẽ chỉ nên bắt đầu với một chương trình đại học, sau đó cùng với thời gian sẽ dần phát triển các chương trình sau đại học. Một điều rất cần thiết nữa là chương trình đại học nên bao gồm những môn học cơ bản chung giành cho sinh viên của tất cả các chuyên ngành. Những chi tiết này nằm ngoài khuôn khổ của bản đề cương này. Những quyết định này cần được nghiên cứu và thảo luận thêm.


2. Giáo dục Việt Nam dưới cái nhìn của ông Hoàng Tuỵ
[3] qua bản kiến nghị :”Chấn hưng, cải cách, hiện đại hoá giáo dục[4]

Bản kiến nghị này gồm ba phần. Phần đầu phân tích thực trạng của giáo dục để tìm ra cái gốc các khó khăn và bất cập hiện nay. Phần thứ hai đề xuất phương hướng hiện đại hoá giáo dục để khắc phục các khó khăn và bất cập một cách cơ bản. Phần thứ ba trình bày một số giải pháp cấp bách cần thực hiện để trả lại môi trường hoạt động bình thường cho giáo dục, và mở đường chuyển dần sang cải cách, hiện đại hoá toàn hệ thống.


2.1. Thực trạng giáo dục

Ai cũng biêt vai trò quan trọng then chốt của giáo dục đối với tiền đồ dân tộc. Thế nhưng, từ nhiều năm, chúng ta đã để cho giáo dục VN tụt hậu khá xa so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Chưa bao giờ tình hình giáo dục trở nên bức xúc như hiện nay. Nhìn chung cả nước, hệ thống giáo dục chưa ra khỏi trạng thái lộn xộn bất bình thường, hoạt động không theo quy luật khoa học, hiệu quả kém, chất lượng thấp, đang có nguy cơ bị thương mại hoá theo xu hướng ngược với lý tưởng công bằng và dân chủ của xã hội. Về cả ba phương diện dân trí, nhân lực và nhân tài, những bất cập đều quá rõ:

• Dân trí thấp, biểu hịên trên lối sống và suy nghĩ, tập quán, tác phong, tư tưởng, ý thức... Đạo đức bị xói mòn, thói gian dối, thiếu trung thực đang tác động nặng nề đến mọi mặt của đời sống xã hội.

• Nhân lực không đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế. Yếu kiến thức, kém kỹ năng thực hành, ít khả năng xoay xở, thiếu đầu óc tưởng tượng và năng lực sáng tạo, đó là những đặc trưng chất lượng lao động khiến sức cạnh tranh rất thấp.

• Nhân tài tuy không đến nỗi quá thiếu nhưng phát hiện và bồi dưỡng kém, thiếu cơ hội và điều kiện phát triển. Chất xám bị lãng phí nghiêm trọng dưới nhiều hình thức khác nhau.


2.2. Con đường ra: cải cách, hiện đại hoá giáo dục


2.2.1. Xây dựng lại giáo dục từ gốc:

•… trước hết cần thay đổi tư duy giáo dục, xác định lại quan niệm về mục tiêu, yêu cầu đào tạo và chức năng của nhà trường, từ đó mới thấy rõ cần thay đổi cung cách dạy và học, thay đổi nội dung, phương pháp, tổ chức quản lý giáo dục, như thế nào để đạt được mục tiêu đó.

• Nên rà soát lại để dứt khoát từ bỏ đào tạo những mẫu người chỉ biết ngoan ngoãn chấp hành, quen được dẫn dắt, bao cấp cả về tư duy và hành động, hơn là biết suy nghĩ độc lập và tự chịu trách nhiệm.

• Cần coi trọng rèn luyện các phẩm chất đạo đức cơ bản của con người hiện đại có cá tính nhưng bao dung, biết giao tiếp và hợp tác, biết làm việc có hiệu quả, có tư duy cởi mở với cái mới, thích dấn thân, không ngại đương đầu với thách thức, khó khăn, sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm vì mục đích lớn, và nhất là trung thực và có đầu óc sáng tạo, là những đức tính tối cần thiết trong đời sống xã hội hiện đại. Đồng thời cần quan tâm đến giáo dục thẩm mỹ, giáo dục cảm xúc, đào tạo toàn diện con người có tâm hồn và thể chất khoẻ mạnh.


2.2.2
. Xem xét lại toàn bộ tổ chức quá trình giáo dục, bao gồm cả nội dung chương trình, phương pháp từng cấp học, sao cho phù hợp với mục tiêu chung.

• Phải giảm bớt đáng kể giờ lên lớp nghe giảng, tăng giờ thực hành, giờ học theo phương pháp tương tác, dành thì giờ cho việc tự học, tuỳ lứa tuổi tập tham khảo sách báo, tư liệu, thảo luận xêmina, thuyết trình, tham luận, viết tiểu luận, làm dự án, ...

• Ngay từ nhỏ học sinh cần tập dần để biết suy nghĩ, ham thích tìm tòi, ham thích khám phá, sáng tạo từ dễ đến khó, tập phát hiện và giải quyết vấn đề, hạn chế học thuộc lòng, chống nhồi nhét kiến thức máy móc tuy không xem nhẹ rèn luyện trí nhớ.

• Giảm, bỏ, hoặc thay đổi hẳn nội dung và phương pháp dạy những điều có tinh chất kinh kệ, để tăng các kiến thức thiết thực, hoặc đòi hỏi vận dụng tư duy nhiều hơn. Đối với nước ta, điều này càng quan trọng vì tàn tích lối học từ chương khoa cử, tinh thần hư học cổ lỗ cho đến bây giờ vẫn còn rất nặng trong xã hội ta và ngay cả trong giới trí thức ta. Đặc biệt đại học càng phải coi trọng đầu óc, phong cách và kỹ năng nghiên cứu khoa học.

 
2.2.3
. Công bằng, dân chủ là xu hướng của xã hội tiến bộ hiện đại

• Trong giáo dục công bằng, dân chủ có nghĩa là bảo đảm cho mọi công dân quyền bình đẳng về cơ hội học tập và cơ hội thành đạt trong học vấn. Ngày nay, đó không chỉ là một nguyên tắc đạo đức mà còn là điều kiện để bảo đảm sự phát triển của xã hội. Chỉ khi có công bằng, dân chủ trong giáo dục, chỉ khi mọi người, dù giàu nghèo, sang hèn, đều có cơ hội học tập và thành đạt ngang nhau thì tiềm năng trí tuệ của xã hội mới được khai thác hết.

• Hiện nay ở nước ta con em các tỉnh miền núi, các vùng nông thôn, hay con em nhà nghèo ở thành thị, đi học đã khó mà học lên cao càng khó hơn. Với chế độ học tập buộc phải học thêm ngoài giờ rất nhiều, phải đóng góp vô vàn khoản tốn kém ngoài học phí, hàng năm phải mua sắm sách giáo khoa mới, với chế độ đánh giá và thi cử tốn kém như hiện nay, nhà trường của ta đã vô tình gạt ra ngoài cả một lớp trẻ thiếu may mắn vì trót sinh ra trong những gia đình nghèo hoặc không ở thành phố.


2.2.4.
Giáo dục phải phóng khoáng, không hạn chế, hay kìm hãm mà trái lại phải tôn trọng, phát triển cá tính

…. Muốn thế không nên gò bó mọi người trong một kiểu đào tạo như nhau, một hướng học vấn như nhau, mà phải mở ra nhiều con đường, nhiều hướng, tạo nhiều cơ hội lựa chọn cho thế hệ trẻ phát triển tài năng, đồng thời cho phép họ dễ dàng chuyển sang con đường khác khi thấy sự lựa chọn của mình chưa phù hợp. Đó là tư tưởng chỉ đạo để giải quyết vấn đề phân ban ở các năm cuối trung học phổ thông, phát triển nhiều loại hình đại học và cao đẳng đáp ứng nhu cầu đa dạng của tuổi trẻ, đồng thời bảo đảm sự liên thông tối đa giữa các cấp học và các loại trường học khác nhau để không ai bị lâm vào ngõ cụt trên con đường học vấn.


2.2.5
. Do bước tiến nhanh của khoa học và công nghệ, các ngành hoạt động kinh tế ngày càng yêu cầu lực lượng lao động phải có trình độ hiểu biết cao mới đảm bảo hiệu quả và năng suất. Hơn nữa trình độ văn minh hiện đại cũng đòi hỏi mọi thành viên trong xã hội phải có học thức cao mới hưởng thụ được đầy đủ cuộc sống của bản thân và đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng. Trước tình hình đó, xã hội văn minh đang tiến đến chỗ trình độ học thức hai năm đầu của đại học trở thành cần thiết cho mọi người, giống như trình độ tiểu học cách đây một thế kỷ. Vì vậy, xu thế tất yếu là phải tiến tới mở cửa đại học cho số đông, rồi cho đại bộ phận dân chúng. Điều này đỏi hỏi những thay đổi lớn trong quan niệm về sứ mạng, nhiệm vụ cũng như tổ chức, quản lý giáo dục đại học. Đặc biệt, với trình độ phát triển hiện nay và với cơ cấu nhu cầu lao động trong thời gian tới, cần chú ý phát triển loại hình đại học ngắn hạn 2 năm (về kỹ thuật hay các nghiệp vụ du lịch, kế toán, ngoaị ngữ, ...).


2.2.6
. Trong khi nâng cao dân trí, mở rộng cửa nhà trường, kể cả đại học, cho đông đảo người dân, thì giáo dục không thể coi nhẹ nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nhân tài. Trái lại, phải rất chú trọng tài năng, khắc phục bình quân và trung bình chủ nghĩa vốn là nhược điểm thường thấy ở các nước nghèo như ta. Trong thời đại kỹ thuật số hơn bao giờ hết, sự hưng thịnh của các quốc gia một phần rất quan trọng, nếu không nói quyết định, là do bởi có nhiều tài năng xuất chúng được nâng niu, nuôi dưỡng và được tạo điều kiện phát triển tột độ. Tài năng quan trọng cho xã hội hiện đại đến mức số lượng và chất lượng người tài được đào tạo là tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá hiệu quả giáo dục. Cho nên, hệ thống giáo dục, đặc biệt là đại học, phải có biện pháp hữu hiệu để đào tạo nhiều người tài, hơn nữa xã hội phải được tổ chức như thế nào để tài năng không tàn lụi sớm mà được khuyến khích phát triển ngày càng cao. Kinh nghiệm các nước phát triển cho thấy giáo dục càng công bằng, dân chủ, số người được học càng đông, thì trong số đông đó càng xuất hiện nhiều người tài xuất sắc. Vì vậy công bằng, dân chủ trong giáo dục không những không mâu thuẫn với việc chú trọng tài năng, mà còn là cơ sở để đào tạo được nhiều nhân tài cho đất nước.


2.2.7
. Trong thời đại khoa học và công nghệ tiến nhanh như vũ bão, không ai có thể thoả mãn với vốn kiến thức đã có của mình. Mọi người đều cần học tập, học thường xuyên, học suốt đời, cho nên giáo dục thường xuyên phải không ngừng mở rộng cả về phạm vi, quy mô, hình thức, đối tượng, và sử dụng những phương tiện kỹ thuật tân tiến nhất: máy tính, Internet, đa truyền thông không dây, ..., để cho ai, ở đâu và bất cứ lúc nào cũng có thể học được dễ dàng và có hiệu quả. Vai trò của giáo dục thường xuyên trong xã hội hiện đại ngày càng tăng lên đến mức ở một số nước tổng chi phí của xã hội cho giáo dục thường xuyên vượt cả tổng chi phí cho giáo dục theo trường lớp truyền thống.

Để thực hiện xã hội học tập theo quan niệm đó, cần gây dựng và duy trì trong mọi tầng lớp và ở mọi môi trường xã hội một tinh thần hiếu học mới, lòng ham chuộng tri thức, thói quen tự học, tự hoàn thiện hiểu biết và nhân cách để sống và làm việc tốt hơn. Với cách nhìn ấy, cần khuyến khích phát triển các trung tâm học tập cộng đồng như đã hình thành gần đây trong khuôn khổ Hội Khuyến học.


2.2.8
. Đặc điểm quan trọng của giáo dục hiện đại là sử dụng rộng rãi Internet, công nghệ thông tin trong mọi khâu giáo dục, từ nội dung cho đến phương pháp, tổ chức. Lý do dễ hiểu là vì một mặt công nghệ thông tin đã len lỏi vào mọi hoạt động kinh tế và đời sống trong xã hội hiện đại, khiến cho hiểu biết tối thiểu về tin học trở nên cần thiết cho mọi người, và mặt khác, máy tính, Internet, viễn thông, truyền thông không dây, đã trở thành những công cụ có thể hỗ trợ đắc lực việc giảng dạy và học tập theo các yêu cầu nêu trên. Đặc biệt phải biết tận dụng khả năng công nghệ thông tin, phát triển mạnh giáo dục từ xa để đáp ứng một cách tiết kiệm, linh hoạt và hữu hiệu nhu cầu học tập ngay tại nơi lao động và sinh hoạt của đông đảo người dân.


2.2.9
. Cải tổ toàn bộ hệ thống giáo dục.

• Về bậc tiểu học và Trung Học Cơ Sở (THCS) , trong nước đã có hệ thống thực nghiệm giáo dục được nghiên cứu từ hơn hai mươi năm nay và đã được áp dụng trên nhiều vùng đất nước, cần có sự thẩm định và đánh giá khách quan, nghiêm túc, để nếu cơ bản nó đáp ứng các yêu cầu nêu trên thì có thể mở rộng thực hiện trong cả nước, coi đó cũng là một nét đặc thù của giáo dục VN.

• Về bậc Trung Học Phổ Thông (THPT) cần nghiên cứu lại việc phân ban theo tinh thần tiến tới tạo nhiều cơ hội lựa chọn cho thế hệ trẻ trên cơ sở bảo đảm một mặt bằng văn hoá chung thích hợp, đồng thời tổ chức đủ mềm dẻo để cho phép điều chỉnh những sự lựa chọn chưa phù hợp.

• Về đại học và kỹ thuật trung cấp, hiện nay cả thế giới đều hướng tới xây dựng một hệ thống giáo dục tương đồng với nhau về cấu trúc và cả nội dung đào tạo để thuận tiện cho việc hợp tác và trao đổi quốc tế (như tú tài +3 năm cho chương trình cử nhân, tú tài +5 năm cho chương trình thạc sĩ, kỹ sư, tú tài +8 năm cho chương trình tiến sĩ). Ta cần sớm chủ động hội nhập vào xu thế chung đó.


2.2.10
. Cải tổ quản lý giáo dục.

• Cần cải tổ Hội đồng giáo dục quốc gia thành một hội đồng thật sự có năng lực tư vấn cao ở tầm chiến lược, tăng cường bộ máy thanh tra đi đôi với mở rộng quyền tự chủ, trong khuôn khổ quy định, cho các cơ sở giáo dục, đặc biệt là các đại học lớn, về mọi vấn đề thuộc phạm vi chương trình, tổ chức, kế hoạch giảng dạy, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác.

Tiến tới chấm dứt tình trạng ngăn cách giữa các đại học và các cơ sở nghiên cứu khoa học, công nghệ. Hệ thống quản lý giáo dục cần được cải tổ thành mạng lưới, vận hành theo cơ chế mạng, tận dụng các tri thức khoa học và phương tiện kỹ thuât về quản lý mạng, để tăng hiệu quả quản lý, phù hợp với xu hướng và yêu cầu phát triển của xã hội hiện đại.


2.3. Mấy vấn đề cấp bách


2.3.1. Về giáo dục phổ thông
:

Cải cách thi cử và đánh giá. Nên bỏ các kỳ thi tốt nghiệp từng cấp học (tiểu học, THCS, tú tài) mà thay vào đó, thực hiện thi, kiểm tra nghiêm túc thường xuyên, đều đặn, từng chặng, từng phần của từng môn học, đến cuối cấp xét các kết quả học tập để đánh giá tổng hợp và cho tốt nghiệp. Chỉ giữ hình thức thi tốt nghiệp cuối cấp THPT cho những người vì lý do này khác không có điều kiện theo học bình thường ở nhà trường. Cần hiểu đây không phải là bỏ thi như một số người hiểu nhầm, mà thi như thế nào để đạt hiệu quả thực chất, nghiêm túc và tránh áp lực nặng nề không cần thiết, lại tốn kém và có hại đối với tâm lý học sinh.

Xoá bỏ dạy thêm, học thêm tràn lan. Đây là tệ nạn kéo dài quá lâu, đã đến lúc không thể nhân nhượng thêm nữa, mà cần dứt khoát xoá bỏ. Cần xem đây là trách nhiệm của chính quyền và đi đôi với giảm nhẹ áp lực thi cử, phải có giải pháp tiền lương thỏa đáng, để bảo đảm cho giáo viên có thể tập trung làm tốt nhiệm vụ giảng dạy chính, khỏi lo kiếm sống hoặc tăng thu nhập bằng việc dạy thêm, dẫn tới nhu cầu giả tạo buộc học sinh phải học thêm lu bù. Cần cương quyết cấm tăng tiết, tăng giờ lên lớp nghe giảng, rà soát lại chương trình theo hướng giảm tải, đổi mới phương pháp giảng dạy, không chỉ bằng cách cải tiến cách giảng bài, mà còn cải tiến cả tổ chức quá trình giảng dạy: tăng số giờ thực hành, dành thời gian hướng dẫn học sinh tự học, tự đọc sách, tham khảo tài liệu, tập thuyết trình, thảo luận, tham gia các hoạt động vui chơi, thể thao, văn nghệ, v.v. Mặt khác, phải bảo đảm cho bản thân giáo viên có thời gian và điều kiện tự học và thực hiện các kế hoạch định kỳ bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ giáo dục.

Chỉnh đốn việc biên soạn, xuất bản và sử dụng sách giáo khoa. Từ nhiều năm nay sách giáo khoa chậm được cải tiến về chất lượng nội dung, hình thức trình bày, mà giá vẫn cao đối với phần lớn gia đình có con em đi học, lại được sử dụng rất lãng phí (hàng năm in sách mới). Nên học tập kinh nghiệm các nước về cả tổ chức, phương pháp và kỹ thuật, đổi mới quan niệm về biên soạn sách giáo khoa theo những quan điểm giáo dục hiện đại, đổi mới quan niệm về xuất bản, sử dụng sách giáo khoa, tiến đến sách giáo khoa không chỉ bảo đảm về chất lượng, nội dung, mà còn phải bền, chắc, hấp dẫn, hợp với lứa tuổi và ổn định trong nhiều năm để có thể sử dụng sách cũ và chủ yếu cho học sinh thuê sách để học. Nhà nước không thu lãi trên sách giáo khoa, không coi việc xuất bản sách giáo khoa là ngành kinh doanh, nhưng cần tạo ra cơ chế khuyến khích các nhà giáo dục, nhà khoa học tích cực tham gia vào công tác biên soạn.


2.3.2.Về giáo dục đại học
:

• Trước hết, cần cải cách mạnh mẽ việc thi cử và đánh giá, chuyển toàn bộ việc học theo hệ thống tín chỉ; thi, kiểm tra nghiêm túc từng chặng trong suốt khoá học, thay vì dồn hết vào một kỳ thi tốt nghiệp nặng nề mà ít tác dụng.

• Về tuyển sinh đại học và cao đẳng, nên bỏ kỳ thi hiện nay, nặng nề, căng thẳng, tốn kém , mà hiệu quả thấp, để thay vào đó một kỳ thi nhẹ nhàng chỉ nhằm mục đích sơ tuyển, để loại những học sinh chưa đủ trình độ tối thiểu cần thiết theo học đại học. Sau đó, việc tuyển chọn vào đại học nào do đại học ấy tự làm, chủ yếu dựa trên hồ sơ học THPT và thẩm vấn hoặc thi nếu cần thiết.

Chấn chỉnh việc đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ. Bằng thạc sĩ và tiến sĩ phải theo chuẩn mực quốc tế, không thể tuỳ tiện, đào tạo cẩu thả, chạy theo số lượng, mà phải lấy chất lượng, trình độ, làm tiêu chí hàng đầu. Thạc sĩ và tiến sĩ là lực lượng lao động khoa học cốt cán, nếu trình độ quá thấp, đào tạo dối trá, thì không chỉ tai hại cho giáo dục, khoa học, mà còn ảnh hưởng tiêu cực lâu dài đến nhiều lĩnh vực hoạt động quan trọng khác, nhất là trong một xã hội còn quá chuộng bằng cấp như chúng ta. Vì vậy cần chỉnh đốn từ gốc, rà soát lại để hạn chế chặt chẽ số đơn vị, ngành được phép đào tạo, đơn vị nào, ngành nào còn yếu thì cương quyết dừng lại việc đào tạo trong nước để gửi ra đào tạo ở nước ngoài và chuẩn bị thêm điều kiện. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, lập lại trật tư, kỷ cương, chống gian dối và cẩu thả trong việc đào tạo và cấp bằng. Đồng thời những cơ sở đại học nào được phép đào tạo cần có đủ quyền chủ động từ việc tuyển nghiên cứu sinh, lựa chọn chương trình, cử người hướng dẫn cho đến tổ chức phản biện, bảo vệ và cấp bằng, để có thể tự chịu trách nhiệm hoàn toàn trước xã hội về chất lượng đào tạo.

Chần chỉnh công tác chức danh Giáo Sư (GS), Phó Giáo Sư (PGS). Đây là một trong những khâu then chốt để bảo đảm chất lượng cho đại học, nhưng trong một thời gian dài cho đến hiện nay, ở nước ta đã thực hiện khá tuỳ tiện và còn quá nhiều bất cập. Một trong những nguyên nhân đóng góp vào sự trì trệ kéo dài của đại học chính là ở công tác này, thể hiện khá tập trung những khuyết điểm về chính sách nhân tài. Do đó để mở đường hiện đại hoá đại học, cần sớm chấn chỉnh công tác chức danh GS, PGS, trước hết cải tổ “Hội đồng chức danh GS” thành một hội đồng không trực tiếp công nhận các chức danh mà chỉ xét duyệt hàng năm, định kỳ, để công nhận những người đủ tư cách ứng cử vào các chức danh GS, PGS ở các đại học và viện nghiên cứu…..

Cải thiện chính sách sử dụng giảng viên đại học. Tình trạng phổ biến hiện nay ở các đại học là giảng viên dạy quá nhiều giờ (25-30 giờ mỗi tuần không phải là hiếm), kể cả giờ dạy trong trường, ngoài trường, dưới nhiều hình thức khác nhau, dạy “liên kết” ở các địa phương, dạy tư, luyện thi, “dạy xô”, v.v.), do đó, ngay ở các đại học lớn, cũng rất ít nghiên cứu khoa học, và nhiều người đã lâu không có thói quen cập nhật kiên thức, nâng cao trình độ nhưng lại sản xuất đều đều cử nhân, thạc sĩ, thậm chí cả tiến sĩ. Trình độ GS, PGS của ta nói chung khá thấp so với quốc tế, cả nước số GS đã được công nhận mới chiếm tỉ lệ chưa tới 0,1%, số PGS chưa tới 5%, trong toàn bộ số giảng viên đại học…..

Đổi mới các trường sư phạm và chính sách đào tạo giáo viên phổ thông. Cần nghiên cứu lại chủ trương xây dựng những trường sư phạm trọng điểm, vì theo kinh nghiệm các nước, chỉ giáo viên mẫu giáo, tiểu học mới cần được đào tạo kỹ về nghiệp vụ sư phạm, còn giáo viên THCS và THPT trở lên thì trước hết phải được đào tạo vững vàng về chuyên môn khoa học rồi mới bổ túc kiến thức và kỹ năng sư phạm…..

Xây dựng “mới” một đại học đa ngành hiện đại, làm “hoa tiêu” cho cải cách đại học sau này. Song song với những biện pháp cấp bách kể trên, cần bắt tay xây dựng ngay một đại học đa ngành thật hiện đại, theo chuẩn mực quôc tế và sánh kịp các đại học tiên tiến nhất trong khu vực, để làm hoa tiêu cho toàn bộ công cuộc hiện đại hoá đại học. Cần xây dựng hoàn toàn “mới” đại học này, nghĩa là không phải ghép chung lại một số đại học đã có sẵn (theo kinh nghiệm không thành công như đã làm cho tới nay), mà toàn bộ giảng viên và sinh viên tuyển vào đều là “mới”…

Tăng đầu tư cho đại học, đi đôi với chấn chỉnh việc sử dụng đầu tư. Cần cải cách chế độ lương và phụ cấp, bảo đảm cho giảng viên đại học một mức thu nhập phù hợp với năng suất và trình độ từng người để họ có thể dồn tâm lực vào nhiệm vụ chính trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học mà không phải lo toan, xoay xở cho đời sống quá nhiều, tạo mọi điều kiên cho họ có thể cập nhật tri thức theo kịp khoa học công nghệ thế giới và khu vực. Tăng học phí hợp lý phải đi đôi với tăng tích cực chất lượng đào tạo, đồng thời có chính sách học bổng rõ ràng, thiết thực, để giúp đỡ có hiệu quả người nghèo và những người trong diện cần nâng đỡ……. 



3. Những khó khăn trong quá trình xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế tại Trung Quốc

Theo giáo sư Nian Cai Liu [5] , Viện Giáo dục Cao cấp , Đại học Giao thông Thượng Hải, xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế là giấc mơ của nhiều thế hệ nhân dân Trung Quốc, từ giới chính trị, đại học, chính phủ, lãnh đạo giáo dục, sinh viên đến cả quảng đại quần chúng.

Chính phủ Trung Quốc đã bắt đấu một dự án lấy tên là ’’dự án 985’’ [6] để xây dựng một số trường đại học đẳng cấp quốc tế trong một tương lai không xa. Gần đây, các viên chức chính phủ bày tỏ những kỳ vọng dứt khoát xây dựng nhiều đại học nghiên cứu lên tầm cỡ quốc tế vào năm 2020. Nhưng vấn đề khó là không có một chuẩn phổ biến để xác định thế nào là một đại học đẳng cấp quốc tế. Phần đông các đại học Trung Quốc vẫn không hiểu rõ thế nào là một đại học đẳng cấp quốc tế và phải làm gì để trở thành một đại học đẳng cấp quốc tế. Để có thể phát hiện cái hố ngăn cách giữa đại học Trung Quốc và các đại học đẳng cấp quốc tế trên thế giới, Viện giáo dục cao cấp thuộc Đại học Giao thông Thượng Hải đã xếp hạng các đại học toàn cầu theo các thành tích nghiên cứu và có tính chất học thuật dựa trên các dữ kiện có thể so sánh được trên thế giới mà ai cũng có thể kiểm tra được. Chỉ có 8 đại học Trung Quốc được xếp hạng trong 500 đại học hàng đầu trên thế giới. Vị trí tối ưu của một đại học Trung Quốc được xếp trong hạng 151 đến 200 [7]

Cái hố ngăn cách chính giữa đại học hàng đầu Trung Quốc và các đại học đẳng cấp quốc tế là phẩm chất của các phân khoa và nghiên cứu, biểu thị bằng :

• số các phân khoa chiếm được những giải thưởng khoa học quốc tế

• những nhà nghiên cứu cao cấp được kể tên trong những ngành học thuật chủ yếu

• thành viên giảng huấn có những bằng cấp của các đại học đẳng cấp quốc tế

• số lần được kể tên trong các bài báo nghiên cứu

Trong số 100 đại học đẳng cấp quốc tế hàng đầu (top 100) trung bình có 4.4 thành viên giảng huấn được giải Nobel và huy chương Fields (tương đương với giải Nobel cho toán học), 56 nghiên cứu gia cao cấp được kể tên trong các ngành học thuật lớn. Trong khi đó, Trung Quốc không có giải Nobel, huy chương Fields cũng như không có một nhà nghiên cứu nào được kể tên trong các ngành học thuật chủ yếu.

Trên 85% toàn bộ nhân viên giảng dạy của 100 trường đại học đẳng cấp quốc tế hàng đầu (top 100) đều tốt nghiệp tiến sĩ tại 100 đại học hàng đầu thế giới, trong khi đó Trung Quốc chỉ có 10% cho những đại học nghiên cứu hàng đầu như đại học Bắc Kinh và đại học Thanh Hoa. Hai đại học này cũng đạt được thành tích cao nhất về số lần được kể tên trên những bài nghiên cứu được liêt kê trong Bảng liệt kê Trích dẫn về Khoa học (Science Citation Index). Thành tích này là 2 và 3 lần, trong khi đó đại học Harvard đạt đến 25 lần [8]

Tuy chính phủ Trung Quốc gia tăng tài trợ cho các trường đại học trong những năm gần đây, nhưng ngân quỹ của các đại học này vẫn còn kém xa đối với các đại học đẳng cấp quốc tế. Do đó, các đại học hàng đầu của Trung Quốc không đủ sức mạnh tài chính để thu hút các giáo sư đẳng cấp quốc tế.

Thêm vào những khoảng cách về thành tích học thuật và tài chính, những đại học nghiên cứu hàng đầu Trung Quốc tụt hậu so với các đại học đẳng cấp quốc tế trong các vấn đề không thuộc về học thuật như quản lý đại học (university management) và văn hoá học thuật (academic culture). 

Về mặt quản lý, sự kiểm soát của chính quyền Trung Quốc trên đại học càng ngày càng thoáng. Tuy nhiên chính quyền vẫn còn ảnh hưởng mạnh trên việc phân phối nguồn tài trợ, phê chuẩn giáo trình, đánh giá dự án, thăm viếng các trường sở đại học ngoại quốc, các cuộc hội thảo, gặp gỡ quốc tế. Con đường dẫn đến tự trị đại học vẫn còn là một cuộc trường chinh [9]

Về mặt văn hoá học thuật, Trung Quốc có những nhược điểm sau đây:

• Vì lý do khả năng cách tân công nghệ của kỹ nghệ Trung Quốc yếu kém, chính quyền khuyến khích các đại học nghiên cứu đáp ứng những đòi hỏi của yêu cầu phát triển kinh tế đất nước. Do đó, đa phần các nghiên cứu được thực hiện tại đại học có tính ứng dụng, và một phần lớn dành cho phát triển kỹ nghệ. Các nghiên cứu cơ bản vẫn còn là một sự xa hoa cho các đại học nghiên cứu. 

• Chỉ có một số ít giáo sư đại học theo đuổi nghiên cứu vì lý do hoàn toàn thuần học thuật. Phần đông dạy học và chỉ làm nghiên cứu như một lối sống. Phẩm chất của các phân khoa đại học, tiêu chuẩn đề bạt thăng chức, quá trình đành giá còn quá thấp so với nhu cầu phải có để xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế. Cần phải có những cải tổ triệt để.

• Sự cạnh tranh của Viện Khoa học[10] với đại học càng ngày càng mạnh. Viện này được thừa nhận quyền cấp phát bằng tốt nghiệp đại học và đưa ra mục tiêu 50000 tốt nghiệp đại học vào năm 2010. Ngoài ra, Viện này còn được gia tăng tài trợ từ chính quyền trung ương thêm vào các nguồn tài trợ chính quy. Do đó, khả năng cạnh tranh của Viện này trong việc trợ cấp nghiên cứu và hoàn thành các nhu cầu của đất nước sẽ lớn hơn. 

• Tuy các đại học nghiên cứu đã đề ra những mục tiêu chiến lược để trở thành đại học đẳng cấp quốc tế, nhưng vẫn chú ý vào những cạnh tranh quốc gia hơn là quốc tế, để có thể bảo vệ cấp bậc, uy tín của mình và tranh giành các nguồn tài trợ cần thiết.

Nói tóm lại, mặc dầu chính phủ Trung Quốc đã thực hiện nhiều cố gắng lớn để cải thiện những đại học nghiên cứu bằng cách chu cấp tài chính và tổ chức lại cơ cấu, nhưng khoảng cách giữa đại học nghiên cứu hàng đầu của Trung Quốc và đại học đẳng cấp quốc tế vẫn còn rất lớn và những thử thách trong quá trình xây dựng đại học nghiên cứu hàng đầu của Trung Quốc lên hàng đại học đẳng cấp quốc tế vẫn còn nghiêm trọng. Chìa khoá của thành công tuỳ thuộc năm điều kiện sau đây :

• Tuyển chọn các chủ tịch đại học này phải theo một quá trình trong sáng

• Tuyển mộ các nhà nghiên cứu, học giả đẳng cấp quốc tế làm nhân sự giảng huấn, đặc biệt các nhà nghiên cứu gốc Trung Hoa, có thành tích tại những nước mở mang.

• Trợ cấp tài chính dồi dào và chính sách ưu đãi liên tục cho một số đại học hàng đầu chọn lọc

• Kết hợp một số viện thuộc Viện Khoa học Trung Quốc vào các đại học nghiên cứu hàng đầu

• Quốc tế hoá mọi mặt của các hoạt động đại học



4. Lý thuyết giáo dục như một đầu tư với vốn là con người

Khái niệm vốn con người (human capital, capital humain) đã được kinh tế gia Adam Smith đề cập đến trong tác phẩm The Wealth of Nations, vào cuối thế kỷ 18 (bắt đấu viết vào năm 1766 và kết thúc vào năm 1776).

Lý thuyết vốn con người được Gary Becker, giáo sư đại học Chicago, Giải Nobel kinh tế 1992, khai triển vào năm 1962. Cái vốn con người được định nghĩa như tập hợp những năng lực sản xuất mà một cá nhân thu được nhờ tích luỹ những hiểu biết tổng quát hay đặc thù, những thành thạo, khéo léo v.v...

Khái niệm “vốn” diễn tả ý niệm một dự trữ phi vật thể quy cho một người, có thể tích luỹ và hao mòn.

Những nhà kinh tế khảo sát một cách nghiêm túc về sự thu hồi của đầu tư trong giáo dục từ 50 năm nay.

Kỹ thuật tính toán tỉ suất thu hồi cá nhân tập trung trên sự khác biệt về thu nhập bình quân hàng năm giữa những người có trình độ giáo duc khác nhau (chẳng hạn trình độ trung học với trình độ tiểu hoc, v.v…).

Như mọi đầu tư, nó được đánh giá bằng hiệu số :

  • A= chi phí ban đầu+giá phải trả khi đi học+chi phí tương ứng (mua sách v.v...)+giá của cơ hội, thời cơ (nghĩa là số tiền công được trả nếu đi làm ngay, không tiếp tục học thêm)
  • B= lợi tức tương lai được cập nhật sang giá trị thực tại 

          RI=(B-A)/A được gọi là tỉ suất thu hồi (rate-of-return).

Những kỹ thuật này cũng phân tích những tỉ suất thu hồi xã hội bằng cách so sánh số lượng tiền bao cấp công cộng cho giáo dục với số lượng tiền thuế có thể thâu được nhờ số tiền kiếm thêm được của những người có trình độ giáo dục tương ứng. 

Sự ước lượng tỉ suất thu hồi của đầu tư vốn con người theo mức độ giáo dục cho phép các nhà hoạch định chính sách công cộng phán đoán hiệu lực của chính sách giáo dục để đạt mục tiêu tuỳ theo các mức độ khác nhau trong hệ thống giáo dục. Chẳng hạn, nếu tỉ suất thu hồi xã hội của giáo dục tiểu học cao hơn tỉ suất thu hồi xã hội của giáo dục cao đẳng, điều đó cho phép kết luận giáo dục tiểu học là một đầu tư có lợi hơn giáo dục cao đẳng v.v...

Đây cũng là kết luận của các chuyên gia kinh tế của World Bank theo kết quả của các nghiên cứu tại các nước đang mở mang. Từ đó, World Bank có chính sách giúp đỡ các chương trình phát triển giáo dục tiểu và trung học hơn là đại học. Quan điểm này đã có ảnh hưởng mạnh trên chính sách của rất nhiều tổ chức viện trợ tài chính quốc tế .[11]



5. Thay lời kết: đã đến lúc xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế tại Việt Nam chưa?

Trước hết, ta có thể dùng các tiêu chuẩn đề ra của giới đại học Trung Quốc về các đại học đẳng cấp quốc tế (số các phân khoa chiếm được những giải thưởng khoa học quốc tế, những nhà nghiên cứu cao cấp được kể tên trong những ngành học thuật chủ yếu, thành viên giảng huấn có những bằng cấp của các đại học đẳng cấp quốc tế, số lần được kể tên trong các bài báo nghiên cứu § 3), để thấy ngay đại học Việt Nam về mặt học thuật còn phải có rất nhiều cố gắng về lâu về dài mới có thể tiếp cận được các tiêu chuẩn này. 

Về mặt kinh tế, vẫn theo các nghiên cứu gần đây của giới đại học Trung Quốc, phần đông các nước của 100 đại học hàng đầu trên thế giới có số GPD lớn hơn 210 tỉ USD và và số GPD/đầu người lớn hơn 25000 USD. Về mặt này, ta cũng đi đến một kết luận tương tự như trên.

Về mặt ngân sách, giáo dục tại Việt Nam rất thấp kém.Theo tin VietNam Net ngày 28 tháng 3 năm 2004, tại hội thảo về chấn hưng giáo dục gần đây, một đại biểu tham dự hội thảo nêu ra con số 4 tỉ USD nhà nước ta chi cho giáo dục (với 22 triệu học sinh) hàng năm, tức là số chi bình quân cho mỗi học sinh là 182 USD. Để thấy con số này là nhiều hay ít chỉ cần so sánh với ngân sách nhà nước chi cho giáo dục của Nhật Bản 13 năm trước đây (1992) (với 25 triệu học sinh) là khoảng 50 tỉ USD, tức là số chi bình quân cho mỗi học sinh ở Nhật Bản là 2000 USD, gấp hơn 10 lần của Việt Nam. Ngoài ra, chi phí gia đình phải trả cho một học sinh học cấp 3 trường công ở Nhật là vào khoảng 4000 – 5000 USD mỗi năm. Lương một giáo viên độc thân 23 - 24 tuổi mới vào nghề của Nhật bản là khoảng 3 triệu yen (27 ngàn USD) mỗi năm. Một giáo viên 40 tuổi có một vợ và 2 con hưởng lương khoảng 5.5 triệu yen (50 ngàn USD) mỗi năm, tương đương lương phó giáo sư đại học (khoảng 35 tuổi) khoảng 5 triệu yen (45 ngàn USD) mỗi năm. [12]

 
Chỉ xét vế mặt trình độ học thuật và trình độ kinh tế, ta thấy ngay chưa đến lúc Việt Nam dồn năng lực để xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế. Qua những kết luận nêu ra trong Kiến nghị của Giáo sư Hoàng Tụy và các kết quả nghiên cứu của World Bank và UNESCO theo các tính toán tỉ số thu hồi xã hội của giáo dục (§ 4), Việt Nam nên dồn các năng lực vào việc chấn chỉnh toàn bộ giáo dục tiểu học và trung học và đại học hiện hữu hơn là “nhảy vọt” hoặc “đi tắt” xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế. 

Một vấn nạn đòi hỏi những giải pháp khẩn trương và kiến hiệu: giáo dục tiểu học. Học sinh tiểu học là tương lai của đất nước về mọi mặt:

• kinh tế: như các nghiên cứu của World Bank và UNESCO về tỉ suất thu hồi, đó là đầu tư lợi nhất cho cá nhân và xã hội

• xã hội: số học sinh tiểu học càng ngày càng tăng thì số trẻ em trai bụi đời, trẻ em gái đỉ điếm lấy chồng ngoại, sẽ càng ngày càng giảm .

• dân chủ & phát triển: dân trí đa số quần chúng cao, đòi hỏi dân chủ sẽ càng lớn. Đại bộ phận lực lượng lao động tương lai sẽ có tay nghề và kỹ năng cao vì có học, do đó sức phát triển đất nước càng mạnh, nhất là nếu số phụ nữ có học càng nhiều thì tiến trình dân chủ hóa và phát triển sẽ càng nhanh như các các nghiên cứu nhân chủng học chứng tỏ [13]

Nhưng tại Việt Nam:

• số học sinh tiểu học càng ngày càng giảm theo thống kê chính thức của Bộ Đào tạo và Giáo dục

• số học sinh nữ và tỉ lệ số học sinh nữ /số học sinh nam bậc tiểu học cũng theo cùng một khuynh hướng:

BIẾN THIÊN SỐ HỌC SINH TIỂU HỌC

Niên khóa 1999 - 2000 2000-2001 2001-2002 2002-2003 2003-2004
Số học sinh nữ 4800886 4646911 4437392 4198829 3951439
Tổng số học sinh 10063025 9751431 9336913 8841004 8350191

BIẾN THIÊN TỶ LỆ HỌC SINH NỮ / TỔNG SỐ HỌC SINH TIỂU HỌC

Niên khóa 1999 - 2000 2000-2001 2001-2002 2002-2003 2003-2004
Tỉ lệ(%) 47.71 47.65 47.53 47.49 47.32


BIẾN THIÊN SỐ HỌC SINH TIỂU HỌC

T.S.H.S. = Tổng số học sinh

S.H.S.N. = Số học sinh nữ

Nguồn : Bộ Giáo Dục và Đào tạo Việt Nam

 



BIẾN THIÊN TỶ LỆ HỌC SINH NỮ / TỔNG SỐ HỌC SINH TIỂU HỌC

T.L. = Tỉ lệ (%)

Nguồn : Bộ Giáo Dục và Đào tạo Việt Nam

 



Lý do của thực trạng này được phân tích trong bài “Vì sao học sinh tiểu học giảm?”[14]

Một hiện tượng giáo dục đáng chú ý tại Việt Nam là tổng số học sinh tiểu học giảm liên tục từ năm 1997 đến nay. Căn cứ theo số liệu chính thức, số giảm này càng lúc càng tăng, vừa tuyệt đối, vừa tương đối.

“...Thống kê cho thấy, từ năm 1997 đến năm 2004, học sinh tiểu học giảm mạnh hơn nhiều so với tỉ lệ giảm dân số trong mức tuổi 5-9 tuổi và 10-14. Trong thời gian trên, dân số từ 5-9 tuổi giảm 16% (chỉ số giảm từ 100 xuống 84), dân số 10-14 tuổi giảm 2% (chỉ số giảm từ 100 xuống 98), nhưng số học sinh tiểu học giảm 25% (chỉ số giảm từ 100 xuống 75).

 
Giả dụ, chúng ta lấy độ giảm dân số tối đa 16% thì so với độ giảm học sinh là 25%, vẫn có đến 9% khác biệt. Sự khác biệt này cho thấy, có hiện tượng bỏ học hoặc không đi học từ năm 1997. Như vậy, trong số học sinh tiểu học giảm đi là 2,6 triệu từ năm 1997 đến 2004, có thể tính là cao nhất có 1,7 triệu là do giảm dân số ở mức tuổi đi học tiểu học (lấy 16% là tỉ lệ cao nhất có khả năng xảy ra). Như thế phần còn lại - ít nhất là 0,95 triệu trẻ em - là do bỏ hoặc không đi học, tức là trung bình trên 100 ngàn học sinh một năm.

Nói tóm lại, đã có hiện tượng một số đáng kể trẻ em trong độ tuổi đi học tiểu học không đến trường và bỏ học. Con số này ngày càng tăng. Chúng tôi chưa biết tại sao trẻ em không đi học hay bỏ học? Cần có các cuộc điều tra nghiên cứu nghiêm túc mới trả lời câu hỏi này một cách thoả đáng. Nếu các em bỏ học vì gia đình không đủ tiền trả học phí, thì đây là vấn đề công bình xã hội rất đáng quan tâm

Về mặt tự trị đại học, quản lý chương trình giáo dục, ta thấy “...các môn học chính trị, (chiếm khoảng 25% khối lượng kiến thức, xem đồ thị dưới đây), quốc phòng (5%, được quy thành 4 tuần), và giáo dục thể chất (5%). Các môn học chính trị như Triết học Marx – Lenin, Kinh tế chính trị Marx – Lenin, Lịch sử Ðảng, Chủ nghĩa cộng sản khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn thuộc quyền của Bộ GDĐT, nói đúng hơn là của Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương. Các cán bộ phụ trách tư tưởng độc quyền kiểm soát toàn bộ năm môn học này, từ việc lập chương trình, nội dung, đến việc tổ chức giảng dạy chi tiết ở các trường, việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý các giảng viên. Nội dung các môn học này hàm chứa những “tín điều’’ về mọi mặt trong đời sống kinh tế xã hội do Hội đồng Quốc gia soạn thảo các môn khoa học Marx – Lenin và Tư tưởng Hồ chí Minh soạn thảo.

.... Càng về sau, số lượng các môn học thuộc nội dung giáo dục này càng gia tăng, trước Ðổi mới, sinh viên chỉ buộc phải học bốn môn, kể từ năm 2004 họ phải học thêm môn thứ năm là Tư tưởng Hồ Chí Minh. Số lượng tín chỉ các học phần chính trị này cũng ngày càng gia tăng: Trước Ðổi mới, sinh viên buộc phải học các môn này trong 18,6 tín chỉ, sau Ðổi mới con số này tăng lên là 22 tín chỉ và hiện nay là khoảng 24 tín chỉ (tuỳ trường), chiếm khối lượng lớn, tương đương hoặc hơn so với thời lượng dành cho các môn học cốt lõi chuyên ngành trong chương trình giáo dục đại cương. Chưa hết, Bộ GDĐT đã ký quyết định ngày 23/02/2004, theo đó, sẽ đem nội dung các môn học này vào chương trình thi tốt nghiệp cuối khoá bên cạnh các môn chuyên ngành kể từ khoá học 2002.” [15]


Về mặt này, hãy theo gương nước Nhật : ”... Cuốn sách giáo khoa môn “Luân lý mới” của học sinh năm thứ 3 cao học ở Nhật (tương đương lớp 12 của ta) do 6 tác giả biên soạn, trong đó có 3 giáo sư đại học và 3 thày giáo cao học. Ngoài bìa sách in bức tranh “Viện Hàn lâm Athens” của đại danh họa phục hưng Rafael vẽ các triết gia cổ đại ở Athens, với Platon, tay chỉ lên trời - đại diện cho ý thức hệ duy tâm, và Aristotle, tay chỉ xuống đất, đại diện cho ý thức hệ duy vật, đứng ở trung tâm. Sách dày 200 trang, dạy khá kỹ về các triết gia của nhân loại và các học thuyết của họ, từ các triết gia phương Tây với Socrates (470 – 399 tr CN), Platon (427 – 347 tr CN), Aritstotle (384 – 322 tr CN), Zenon (335 – 263 tr CN) , Epikouros (341 tr CN – 270 tr CN) đến các nhà tư tưởng phương Đông như Khổng Tử (551 – 479 tr CN), Mạnh Tử (372 – 289 tr CN), v.v. Trong phần các học thuyết của xã hội hiện đại, học sinh được học các tư tưởng thời Phục Hưng, rồi D. Erasmus (1466 – 1536), M. Luther (1483-1546), J. Calvin (1509 – 1564) , M. E. Montaigne (1533 – 1592), B. Pascal (1623 – 1662) , F. Bacon (1561 – 1626), R. Descartes (1596 – 1650), kế đến các tư tưởng dân chủ tự do với J. Locke (1632 – 1702) , J. J. Rousseau (1712 – 1778), I. Kant (1724 – 1804), G. Hegel (1770 – 1831), J. Bentham (1748 – 1832) , J. S. Mill (1806 – 1873), K. Marx (1818 – 1883), S. A. Kierkegaard (1813 – 1855), S. Freud (1856 – 1939), K. Jaspers (1883 – 1969), F. W. Nietzsche (1844 – 1900), M. Heidegger (1889 – 1976), J. P. Sartre (1905 – 1980) v.v. Mỗi một triết gia ít thì cũng được bàn luận trong 1 trang, nhiều thì vài ba trang (như Platon, Aristotle, Kant và Hegel). Tất cả 5 vị K. Marx, F. Engels, I. Bernstein và hai vợ chồng S. J. và B. Webb cộng lại được 3 trang. Sách còn dạy về lịch sử các tôn giáo của nhân loại như đạo Thiên Chúa, đạo Phật, đạo Hồi v.v.

Có bao nhiêu học sinh lớp 12 của Việt Nam hiện nay biết Kant, Hegel, Kierkegaard là ai, hoặc thuyết phân tâm học của S. Freud nói gì, kể cả bằng con đường tự đọc sách?” [16]

Hoàng Xuân Đài

Paris đầu xuân 2006


Chú thích.

[1] http://www.vietnamnet.vn/dhqt/2005/10/496679/

[2] Ngân sách 100 triệu USD trong vòng từ 5-10 năm để thành hình một đại học đẳng cấp quốc tế quá lạc quan so sánh ngân sách của Trung Quốc, 100 triệu USD là ngân quỹ cho giai đoạn I (3 năm) của “dự án 985”. Đó là tính theo tỉ suất hối đoái lưu hành, nếu tính theo theo tỉ suất ngang giá sức mua (purchasing power parity) thì phải cần một ngân quỹ 4 lần lớn hơn (xem [6] ).

[3] Hoàng Tuỵ, nguyên viện trưởng Viện Toán, Hà Nội, là một chuyên gia về Lý thuyết Tối ưu Toàn cục (théorie de l'optimisation globale). mà nhiều nơi trên thế giới biết tiếng. Ông đã là giáo sư thỉnh giảng của nhiều đại học nước ngoài, và là docteur honoris causa của Đại học Linkoping, Thuỵ Điển.(http://vietsciences.free.fr/vongtaylon/profs/hoangtuy_bio.htm)

[4] http://www.ncst.ac.vn/HVGD/

[5] ‘’Research Universities of China: Differentiation, Classification and Word-Class’’, Nian Cai Liu , Viện Giáo dục Cao cấp , Đại học Giao thông Thượng Hải.

[6] Nhân dịp lễ kỷ niệm 100 năm đại học Bắc Kinh (tháng 5 năm 1998) Chủ tịch Trung Quốc tuyên bố Trung Quốc sẽ có nhiều đại học đẳng cấp quốc tế, với “dự án 985”. Tổng số ngân quỹ của 34 đại học trong giai đoạn I của dự án là 28.3 tỉ Nhân dân tệ (tương đương vói 3.4 tỉ USD theo tỉ suất hối đoái lưu hành hoặc 14.7 tỉ USD theo tỉ suất ngang giá sức mua (purchasing power parity) của World Bank), trong thời gian 3 năm. Chính phủ trung ương tài trợ hơn 50% ngân quỹ này.

[7] Viện Giáo dục Cao cấp, Đại học Giao thông Thượng Hải. (2005) Academic ranking of world universities – 2005 lấy từ http://ed.sjtu.edu.cn/ranking.htm, ngày 12/08/2005. 

[8] Nguồn : China Institute for Science and Technology Information

[9] Các chủ tịch càc trường đại học được chính phủ trung ương phong chức tước chính trị. Chẳng hạn, chủ tịch các đại học cấp bằng cử nhân được phong cục trưởng, tương đương vói chức cục trưởng của một bộ chính phủ trung ương. Gần đây, 31 chủ tịch đại học được phong chức tương đương với thứ trưởng của chính phủ trung ương.

[10] Vào những năm 1950, Trung Quốc theo mô hình Liên Xô, thiết lập những viện nghiên cứu độc lập đối với và đứng ngoài đại học, như viện Khoa học, viện Khoa học Xã hội, viện Khoa học Canh nông…Các viện này có hàng trăm viện nghiên cứu, trong tất cả các ngành học chủ yếu.Tới những năm 1980, đa phần các nghiên cứu được thực hiện tại các viện nghiên cứu độc lập này, trong khi đó, trọng điểm của các đại học là giảng huấn.

[11] Báo cáo của cơ quan Task Force on Higher Education in Developing Countries (World Bank và UNESCO triệu tập) http://www.tfhe.net/report/readreport.htm

[12] Tại sao giáo dục Việt Nam khủng hoảng và đâu là lối thoát?Nguyễn Đình Đăng, Talawas 20.10.2005

[13] Dân trí và dân chủ “, Hoàng Xuân Đài , Viễn Tượng Việt Nam số 2- tháng năm 2004

[14] Báo Lao Động số 74 ngày 16.03.06 

[15] “Chính sách tập quyền và chính trị hoá thông qua việc thiết lập và cơ cấu chương trình đào (tạo) đại học”, Thanh Hải , © 2006 talawas 10.2.2006

[16] Tại sao giáo dục Việt Nam khủng hoảng và đâu là lối thoát?”, Nguyễn Đình Đăng,Talawas 20.10.2005


 
< Prev   Next >
 
Top! Top!