space gif
left jpg
xq-lightblue logo
Home
Monday, 21 April 2014
 
 
Home
Văn Học
Văn Hóa
Sử Địa
Địa Linh Nhân Kiệt
Mỹ Thuật
Âm Nhạc
Bài Đăng Trong Tuần
Diễn Đàn
Forum-RSS
Cùng tác giả/chủ đề
Chọn Template
xq-lightblue
Chăn Trâu | Print |  E-mail
Written by Xuân Đỗ   
Sunday, 20 March 2011

Xuân Đỗ

Truyện ngắn

CHĂN  TRÂU

chantrau.jpg


                                             

Ai bảo chăn trâu là khổ,
Chăn trâu sướng lắm chứ!
Ngồi mình trâu, phất ngọn cờ lau
Và miệng hát nghêu ngao...

 
(Phạm Duy – Em Bé Quê)

                                                   
                                                   
                                                      

 

 

1.-
Một thuở ấu thơ:
Năm Tân lên mười hai tuổi, đậu vào lớp đệ thất, đậu khá cao, thứ năm trên một trăm học sinh cho hai lớp đệ thất, vào trường công Trần Quí Cáp Hội An, là một vinh dự lớn lao. Ðể thưởng, ba mẹ Tân cho con trai về Kim Bồng, quê ngoại chơi trong ba bốn tuần lễ, trong dịp nghỉ hè, ở nhà người cậu, anh thứ hai của mẹ.
Nhà của cậu Hai khá lớn, có vườn cây trái sum sê. Nào cam, quít, ổi, xoài, mãng cầu, trần bì, nhãn...Tân tha hồ chơi đùa, leo trèo hái trái cây, với mấy đứa bạn mới, cháu nội ngoại của cậu Hai, cùng lứa tuổi với Tân. Chán các thú leo trèo các cây ăn trái, Tân chạy theo bạn ra các cánh đồng, bắt dế về đá. Trò chơi đá dế đã làm Tân say mê. Thằng cháu nội cậu Hai, nhỏ thua Tân một vài tuổi là một trong những đứa có những con dế hay nhất, không thằng nào hạ dế nó được. Tân nhất quyết phải tìm kiếm một con dế lớn, hay hơn, để hạ nó. Tân hỏi mấy thằng bạn, làm sao chạy ra đồng, ra các đám ruộng, bươi các đống cây, đống rác, tìm bắt dế. Một thằng khác nói to nhỏ bên tai Tân:
    - Mi muốn có một con dế thật hay phải không? Mi có tiền không? Mi có thể hỏi mua của mấy thằng chăn bò, chăn trâu ngoài đồng đó. Mấy đứa đó đào hang dế, bắt được những con dế thật to, thật mạnh, đá hay lắm. Dế bắt trong các đống rác, không hay đâu.  Mi ưng không?

Nghe thằng nhỏ nói, Tân mê quá. Tân có trong túi mấy đồng bạc mẹ cho, để dành ăn quà vặt và một ít kẹo cây. Tân nghĩ có thể mua dế của mấy thằng giữ bò, giữ trâu, hoặc đổi nó bằng kẹo.
Quả nhiên, khi Tân chạy theo thằng bạn mới, ra đám gò mã, gặp một thằng đang ngồi vắt vẻo trên lưng trâu, có bộ mặt choắc, như trái cau phơi khô, da đen thui, chỉ mặc một chiếc quần xà lỏn cũ xì, rách lủng đít. Tân hỏi:
    - Mi có dế không?
Thằng kia gật đầu. Tân tiếp:
    - Mi bán cho tau nghe? Mi có mấy con?
Thằng kia lại gật đầu, ra dấu năm ngón tay. Tân hỏi:
    - Năm con hả? Mi muốn mấy đồng?
Thằng kia ra dấu, năm ngón tay xòe ra. Tân lắc đầu, tỏ vẻ thất vọng:
    - Năm đồng nhiều quá, tau không có. Tau chỉ có hai đồng và mười cây kẹo. Kẹo ngon lắm. Mi muốn đổi dế lấy kẹo không?
Thằng kia gật đầu, mắt sáng rỡ, nuốt nước miếng. Tân cũng mừng quá, móc túi lấy hai đồng bạc và mười cây kẹo đưa cho thằng kia. Thằng kia nhảy xuống lưng trâu, chạy lại bụi cây, lấy chiếc hộp mho nhỏ, mở nắp, chỉ cho Tân năm con dế, để trong năm ngăn riêng biệt nhau.
Mang hộp dế chạy về nhà, kêu thằng bạn có con dế vô địch, ra đá với dế Tân mới mua được. Quả nhiên hai con dế ngang sức nhau, nhìn nhau, cất cánh gáy vang, nhe hai cái càng thật bự, xáp vào nhau, lăn lộn trong trận cắn xé nhau. Một chốc lâu, dế mới của Tân có vẻ yếu thế, chạy ra khỏi trận đấu. Con dế kia thắng, cất cánh gáy vang trong chiến thắng. Tân tức quá, định đổi con dế khác. Một thằng ngồi bên cạnh, nói:
    - Mi bức sợi tóc, quay nó, nó sẽ đá lại, may ra sẽ thắng. Làm đi, thằng ngu.
Tân nghe theo, bức sợi tóc dài trên đầu, quay con dế vù vù, rồi thả xuống khay. Hai con lại gáy vang, xáp vào dữ dội hơn. Trận chiến lần này gay go hơn, lâu hơn, hai con dế lăn lộn, cắn nhau và cuối cùng con dế của Tân thắng, đuổi theo con dế bại trận, chạy trốn, gáy vang thật oai hùng. Tân nhảy cẩng lên, la lớn:
    - Tau thắng rồi. Tau thắng, tau thắng. Dế tau hay nhất.
Thằng kia quay con dế của nó nhiều lần, nhưng con dế cứ lì ra, không thèm vào đá nữa. Thằng kia tức muốn khóc, bắt con dế, cầm chạy đi mất. Tân ôm cái hộp có năm con dế mới mua, đem vào cất dưới bàn thờ ở nhà trên của cậu Hai, chạy đi chơi trò khác.
Có tiếng kêu ơi ới của mấy đứa ở ngoài sân, Tân chạy ra, đi ra ngoài đồng, chỗ mấy đứa giữ trâu đang tụ nhau đánh tổng, chạy nhảy say sưa.
Thằng bán năm con dế cho Tân hỏi:
    - Dế có hay không mi?
Tân gật đầu, cười:
    - Thiệt hay. Tau là vô địch chừ.
    - Mi có muốn mua dế nữa không?
Tân lắc đầu. Thằng nhỏ gạ:
    - Mi có ưng cởi trâu không?
Tân rất ưng nhưng còn sợ con trâu húc, ngần ngừ:
    - Tau sợ con trâu báng tau quá. Thấy hai cái sừng nó thiệt dài, cong vèo là tau sợ rồi.
    - Thằng ni ngu dễ sợ. Con trâu ni hiền lắm, nó không báng ai đâu. Mi ưng tau đỡ cho ngồi lên mình nó, sướng lắm, như đi kiệu, dễ hơn cởi ngựa, rứa đó. Cho tau xin kẹo nghe.
Tân ưng lắm nhưng vẫn còn sợ, còn lưỡng lự. Thằng nhỏ nói :
    - Mi ngu, nhát hơn con gái. Mi biết con Ni, cũng bên Phố, cháu bà Ðốc, về chơi, tau tập cho cởi trâu, mê tơi luôn. Nó cởi trâu ngon lành lắm. Ðể tau chạy vô kêu con Ni ra cởi trên lưng trâu cho mi coi nghe.
Tân biết con Ni,  ba nó ở Huế đổi vào làm việc ở Tỉnh đường, bà con với bà Ðốc. Nhà bà Ðốc ở Hội An cũng gần nhà Tân, góc đường Lê Lợi và Quảng Ðông, nhà của bên nội của nó, chỉ cách nhà cậu Hai không xa lắm. Con Ni đẹp nhưng kiêu kỳ và khinh người lắm. Tân nhiều lần thấy nó, định kêu nó, đi hái ổi, trần bì cho nó, nó đều lắc đầu, không thèm trả lời, chạy đi chơi với mấy đứa bạn của nó.
Thằng giữ trâu đã chạy vô nhà, kêu con Ni và dẫn nó ra để cởi trâu. Tân thấy dị dị, thua con gái, thật ê mặt. Thằng nhỏ kêu :
    - Mi lại đây, tau chỉ cho trèo lên lưng trâu. Mi ưng ngồi trước hay ngồi sau con Ni.
Tân ngượng, chưa trả lời. Con Ni nói với thằng nhỏ:
    - Ừ mi cho nó ngồi trước đi. Tau ngồi sau dễ chịu và thích hơn.
Tân trèo lên lưng trâu, theo lời chỉ dẫn của thằng nhỏ, trợt lên, té xuống vài ba lần, ngượng đỏ mặt trước đứa con gái đứng cười cười, coi như khinh thường nó quá. Khi nó đã leo lên được trên lưng con trâu, dạng hai chân ra, thấy sướng như ông tướng cởi voi ra trận. Ngó lại phía sau, con Ni đã nhẹ nhàng nhảy phóc lên lưng trâu, khi thằng nhỏ kê vai cho con Ni bước và lấy trớn nhảy lên. Tân phục con bé quá, nhưng không dám khen, sợ nó lại lên mặt, khinh mình.
Thằng nhỏ bảo Tân:
    - Chừ, mi thúc hai chân vào bụng trâu, để con trâu bước đi. Muốn đi nhanh, thúc mạnh, nhiều lần, muốn đi chậm thúc nhẹ nhẹ thôi. Muốn đứng lại thì ghì sợi dây là con trâu biết, đứng lại, nghe chưa? Mi thúc tầm bậy, nó sợ, nó nhảy lên, hất mi té xuống đất, gãy chân đó nghe chưa.
Tân cầm dây cương, thúc hai chân thật mạnh, con trâu chồm lên như muốn chạy tới, làm con bé Ni suýt té, phải ôm cứng hông Tân. Thằng giữ trâu tức cười, còn con bé Ni la oi ỏi, nói với thằng nhỏ:
    - Thôi để tau xuống, leo lên ngồi phía trước. Tau không muốn ngồi sau thằng Tân, sợ nó làm té xuống đất quá.
Tân thật ngượng nhưng vẫn còn thấy cảm giác nóng ran trên lưng và cả người khi con Ni ôm nó từ phía sau. Tân ngượng không dám nhìn con bé Ni. Con bé nhảy xuống, rồi lại nhảy lên, ngồi phía trước, cầm dây cương, chừ trông oai như bà Trưng Trắc hay Trưng Nhị, cởi voi ra ra trận đánh quân Mã Viện ngày xưa.
Tân ngồi phía sau con bé Ni, cố ngồi xa nó một chút và không dám đụng đến người nó. Con bé Ni thúc chân cho con trâu đi chầm chậm, ra đường cái, đi vào khu gò mã khác. Ði long dong một lúc lâu, gió đã đổi chiều, trên trời mây xám kéo thật nhanh từ các góc trời về bao phủ một màn xám. Có lẽ trời sắp mưa. Tân nói với con Ni:
    - Ni, trời sắp mưa rồi. Về cho nhanh, không bị ướt hết chừ.
Ni gật đầu, kêu ơi ới thằng nhỏ giữ trâu, nhưng nó chạy đi đâu mất. Một lúc mưa bắt đầu nhỏ hột, Tân tuột đại xuống lưng trâu, đứng phía dưới, đỡ cho Ni cùng tuột xuống. Lần này, con Ni vụng về quá, té, đè lên Tân. Tân ôm choàng Ni ngang hông, vòng tay đụng ngực con Ni, thấy... cồm cộm, nghe hơi ấm và mùi thơm... con gái ngào ngạt. Hai đứa vội vàng đứng lên, ngượng nghịu, không dám nhìn nhau, chưa kịp phủi áo quần, thì trời mưa đổ xuống. vội chạy vào gốc cây đa khá lớn phía trước. Mưa thật nặng hột, Tân đã ướt tóc, ướt mặt. Tân vội cởi áo, đưa cho Ni trùm đầu, cùng chạy vào trú dưới cây đa. Con Ni bẻn lẻn, nói lí nhí:
    - Cám ơn nghe Tân. Tân ướt hết cả người, chừ lấy áo lau cho khô đi, và mặc áo vào, kẻo bị đau đó nghe.
Tân cười sung sướng, nghe người nóng rang, khoái trá, nói:
    - Cởi trâu vui quá hỉ! Mai mình cởi trâu nữa nghe Ni.
Ðêm đó trong giấc ngủ li bì, Tân thấy mình cởi voi ra trận đánh giặc. Bên cạnh con Ni cũng cởi một con voi khác, xông vào đánh giặc Tàu, cứu Tân ra khỏi vòng vây. Buổi sáng, Tân ngồi dậy, thấy chóng mặt, muốn ói mữa và đầu nóng rang. Mợ Hai sờ đầu Tân, kêu cậu Hai lên, cho Tân uống thuốc cảm và ngày đó không cho Tân ra chơi ngoài nắng. Tân thấp thỏm ngồi dậy, trên giường, rồi chạy lại đứng bên cửa sổ nhìn ra vườn ngoài, nhưng không thấy bóng dáng mấy đứa bạn, nhất là Ni, không biết đang làm gì.
Hai hôm sau, hết sốt, người nhà cậu Hai dẫn Tân về lại bên Phố. Tân không kịp chào từ biệt các bạn mới, chào Ni, bà nữ tướng trong giấc chiêm bao hồi tối, đã cứu Tân ra khỏi vòng tay quân thù.

2.-
Một thời lao lý:.
Tình hình chiến trận biên giới Việt – Trung đã làm cho cuộc sống tù đày cải tạo của Tân thay đổi. Năm 1979, Tân và đa số bạn tù trại Lào Kai, âm thầm di chuyển về Vĩnh Phú và phân tán mỏng vào các K ở trại cải tạo này. Tân về trại K3.
Vừa để đồ đoàn, lon gô, mấy cái áo quần đã sờn rách xuống chỗ nằm. Tân thấy, chỗ nằm ở K này tương đối khá đấy chứ. Không quá chật hẹp, không dơ bẩn, rách rưới. Như vậy là quá tốt trong cuộc sống tù đày. Tân ngồi xuống sắp xếp đồ đạt ra ngăn nắp trên chỗ nằm. Một anh bạn tù mới bước vào, cười chào :
    - Ở trại nào về đấy, anh bạn?
Tân ngẩng đầu lên, nhìn người bạn mới, tươi cười đáp :
    - Tôi ở Lào Kai. Còn anh ở đây lâu chưa? Tôi tên Tân.
    - Tôi cũng mới được điều về đây, trại K3 này, trước anh bốn năm ngày thôi. Trước đây tôi ở Yên Bái. À, tôi tên Phát, ngụy Cảnh Sát.
Tân và Phát cùng cười. Tân nói :
    - Còn tôi, ngụy Quốc Gia Hành Chánh.
    - Ừ thì, cả anh và tôi đều cùng là ngụy ác ôn, nợ máu đầy người, cải tạo muốt mùa thôi!  Ờ anh bây giờ nằm bên tôi, là bạn của tôi đấy nhé.
Phát vo một viên thuốc lào, lấy « nõ thần » ra, kê miệng kéo ro ro, trông thật phê! Nhìn Phát hai mắt lim rim, Tân thấy vui vui, quên cuộc đời tù đày. Một chốc, Phát đưa diếu cầy qua Tân, bảo:
    - Làm một phát không?
Tân lắc đầu, cám ơn. Tân thấy bụng đói quá, sợ hút thuốc lào vào, sẽ bị vật ngã như lần đầu tiên mới bị đưa ra Bắc, nghe lời anh bạn xúi dại, hút một bi, té ngay xuống sàn, dãy đành đạch, đến nửa ngày mới khỏe lại.
Tân hỏi:
    - Ở đây chính sách lao động có ác liệt lắm không?
Phát thổi khói vào không gian, chiêu ngụm nước, trả lời:
    - Ở tù mà anh bạn. Lao động muốt mùa là vinh quang thôi! À, anh Tân nè, anh mới về, chắc sẽ được giữ chức chăn trâu đó. Ở đây có một đàn trâu trên mười mấy con, vừa trâu, vừa nghé. Cái chỗ này còn đang trống. Cái tay giữ chức này cũng vừa bị điều đi trại khác. Anh mới về, đã có kinh nghiệm chăn trâu trong quá khứ, sẽ được ưu tiên nhận trách nhiệm lịch sử. Trước đây khi từ trong Nam ra, tôi đã giữ chức vụ này trong mấy năm liền, ở các trại khác.
Có lẽ sắp tới giờ cơm trưa, nhiều người đi qua, đi lại, nói chuyện râm ran. Phát bảo Tân :
    - Anh mang lon gô, đi lãnh cơm trưa. Bụng lúc nào cũng lẹp xếp, đói triền miên ông ơi! Không biết đến bao giờ mới được về lại trong Nam, được ăn tí cơm với mắm là niềm ước mơ của tụi mình.
Quả nhiên, ngày hôm sau, khi đội đã tập họp đầy đủ, chuẩn bị ra hiện trường lao động, tên cán bộ trực trại kêu Tân ra khỏi hàng, bảo đi theo một người trại viên cũ, chỉ cho chuồng trâu và cách chăn trâu. Phát cười lên:
    - Tôi đoán có sai đâu. Ông lên chức thật sự mà. Bây giờ ông là Tổng Giám Ðốc Tổng Nha Mục Súc đấy nhé.
Ông tù già cũng là tù cải tạo, trước đây giữ đàn trâu, nay bị bệnh nặng, được nằm nhà, dọn dẹp vệ sinh, chỉ dẫn và truyền nghề cho Tân:
    - Ðàn trâu có cả thảy mười con. Bốn trâu lớn, một đực, ba cái và sáu nghé con, từ năm tháng đến một tuổi. Buổi sáng anh ra mở cổng cho trâu đi ăn cỏ. Còn anh đi cắt cỏ ở các đồi chung quanh đây, gánh về để dành cho trâu ăn trong những ngày mưa lớn, cho mùa đông sắp tời, không cho trâu ra đồng được. Tới mùa cày cấy, các lán cử người đến nhận trâu, đi cày, đi bừa ruộng. Tối về, anh đưa trâu vào chuồng, kiểm điểm cho đủ số. Coi chừng bên trại cách đây mấy cây số cũng có một đàn trâu ít hơn, đâu khoảng năm bảy con chi đó. Nếu nó nhập lộn nhau, hoặc mấy con đực đụng nhau, dành trâu cái của nhau, húc nhau là nguy cho anh đấy. Chết trâu, chết người và người chăn trâu vào nằm nhà kỷ luật, từ vài ba tuần đến vài ba tháng, không lường được.
Nghe ông già hù quá, Tân đâm nản, thà đi cuốc đất, đốn gỗ, cắt nứa, dù cực khổ nhưng có đông người, khỏe hơn, vui hơn. Nhưng đã bị thiên tào chỉ định, đành chịu thôi.
Ngày hôm sau, khi Tân ra mở cửa chuồng, bầy trâu ùa chạy. Con trâu đực đầu đàn, được tên giữ trước đây đặt một cái tên thật Kim Dung là Quách Tỉnh, vị anh hùng võ hiệp « trâu nước » trong Anh Hùng Xạ Ðiêu của Kim Dung, nghênh ngang đi trước. Tự nhiên nó đứng sựng lại, mắt đỏ ngầu, hai chân cào cào xuống đất, rống lên nghé ạo, nghé ạo, thật hung dữ, thách thức. Tân ngơ ngác, không biết chuyện gì xãy ra. Chẳng bao lâu, phía trước một con trâu đực thật to, thật lực lưỡng, hai sừng cong vuốt, đầu sừng nhọn, oai vệ đi đến. Hai con nghinh nhau, rồi như hai toa xe lửa, xông vào nhau. Bốn cái sừng chạm nhau như tiếng gươm, tiếng kiếm va chạm. loảng xoảng, ghê rợn. Hai con đều dữ dằn, quyết thắng, nên trận xáp chiến kéo dài khá lâu, Tân đứng xa, hồi họp theo dõi. Cuối cùng con Quách Tỉnh yếu thế, thụt lui và té quị xuống một cái hố phía sau, chịu thua, mặt đầy máu me, chạy ra khỏi trận đấu. Con trâu kia cũng đầy máu trên tai, bên mắt và bên vai trước, bước đi khập khiển.
Con Quách Tỉnh chạy mất. Tân chạy theo tìm nó gần suốt cả ngày vẫn không thấy đâu. Thật khổ cho Tân, mới ngày đầu tiên chăn trâu đã gặp số xui. Chiều đã xuống. Nắng tắt, chín con trâu kia đã lục tục kéo nhau về chuồng. Con Quách Tỉnh vẫn biệt tăm. Tân nghĩ, chẳng lẽ con Quách Tỉnh chạy về đỉnh núi, tìm cái chết âm thầm như con báo đen của Ernest Hemingway trong truyện ngắn The Snows Of Kilimanjero?
May quá có tên bộ đội vệ binh mang súng đi qua, Tân kêu lại, kể đầu đuôi, tên vệ binh bảo theo nó, đi loanh quanh ra ven bờ suối, sườn đồi, lội lên bên bìa rừng, mới tìm thấy con Quách Tỉnh đang nằm mắt lim dim, miệng nhai cỏ như không có việc gì xãy ra. Tân kiếm một số lá cây, nhai đắp vào các vết thương, vỗ về nó:
    - Quách Tỉnh ơi, mày thương tao, đứng lên đi về chuồng. Tụi mình cùng là những kẻ bại trận, thôi buồn làm chi nữa. Về chuồng nằm ngẫm nghĩ cuộc đời. Thời thế tạo anh hùng, nhưng cũng chính thời thế tạo kẻ chiến bại! Thôi đứng lên về nhé. Với tao mày vẫn là anh hùng Quách Tỉnh. Người anh hùng thắng không kiêu, bại không nản.
Con Quách Tinh mệt nhọc đứng lên, hai mắt vẫn mở lớn như có ngấn lệ long lanh, đi theo Tân về chuồng trong yên lặng của màng đêm núi rừng vừa sụp xuống.
Tối đó ngồi hút thuốc lào, kể chuyện con Quách Tỉnh cho Phát nghe. Phát cười ha hả:
    - Như vậy mạng ông lớn lắm. Ông nói chuyện với trâu mà nó nghe được là hiếm có lắm đó. Tôi có linh tính ông sắp được tha về rồi đó, ông không bỏ xác ở núi rừng miền Trung Du này đâu.
Ngồi bên Phát nói đủ các chuyện ngày xưa, ngày nay. Chợt Phát hỏi:
    - Ông người Xứ Quảng, Hội An, nhà ông ở đâu?
    - Góc đường Lê Lợi và đường Chùa Cầu, gần tiệm Vạn Hòa.
    - Dám ông biết vợ tôi lắm.
    - Vợ ông tên gì?
    - Bích Ni, nhà ông già vợ tui ở gần tiệm chụp ảnh Huỳnh Sỏ.
Tân nghe tim mình như nhảy chậm một nhịp, nói:
    - Bích Ni, tôi có.. có... nghe tên. Nhưng hình như sau này Bích Ni theo gia đình vào Nha Trang thì phải?
    - Ðúng rồi. Ba Bích Ni là công chức đổi từ Hội An vào Nha Trang làm việc. Tôi học Võ Tánh, theo Bích Ni mấy năm, khi tôi làm Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát ở Bình Ðịnh, cưới Bích Ni năm 1970 và chúng tôi có hai cháu, một trai, một gái.
Quả đất nhỏ thật. Những ngày cởi trâu với Bích Ni ở Kim Bồng, rồi quen thân nhau, trong những năm trung học Trần Quí Cáp, đến khi Bích Ni đi Nha Trang, Tuân mất liên lạc. Nay ở chốn rừng núi Vĩnh Phú lại gặp chồng của Bích Ni, bạn tù cùng lán, cùng chỗ nằm. Tân hỏi :
    - Chị Bích Ni bây giờ ở Nha Trang, Hội An hay Sài Gòn?
Phát nhổm người, kê miệng nói thì thầm vào tai Tân:
    - Tôi gởi thư về cho bả, nói mánh, bảo nên đưa hai con vượt biên, tôi không biết có còn  sống sót để về bên vợ con hay không. Nhờ vậy bả mới quyết định ra đi, ghe tấp vào đảo hoang, may nhờ Tàu Ánh Sáng L’Íle De Lumière cứu, đưa qua Pháp tỵ nạn.
Tân hỏi vội:
    - Năm nào?
    - Tháng sáu năm 1980.
    - Bà xã tôi và hai con cũng đến Pháp, sau khi đi vượt biên bằng ghe, đến được Tân Gia Ba, có người chị ở bên Pháp bảo trợ qua Paris tháng mười năm 1981. Như vậy ở bên đó dám hai bà quen biết nhau lắm. Nếu tụi mình không bỏ xác ở núi rừng miền Bắc này, mà có cơ duyên cùng đoàn tụ với vợ con, tụi mình lại sẽ lại gặp nhau ở kinh thánh ánh sáng Paris lắm. Mình hẹn đi uống cà phê ở Saint Germain Des Prés nhé.
Tân và Phát ôm nhau cười ha hả như chưa bao giờ vui thế trong chốn tù đày. Hơn một năm ở chung với nhau cùng một đội, một lán, Tân và Phát thân nhau, chia sẻ buồn vui, no đói với nhau. Sau đó lại bị phân tán, Phát đi qua K4, cách nhau hai quả đồi. Chỉ lâu lâu trong các cuộc họp lớn toàn trại, gồm tất cả các K, hai người bạn mới gặp nhau.
Mùa hè năm 1982, nghe nói bên K4 nhiều người bị bệnh kiết lỵ và nhà thương lại thiếu thuốc men, nhiều người chết. Tân tìm mấy người quen hỏi thăm Phát, mới được tin dữ, Phát bị bệnh kiết lỵ rất nặng, phải đưa đi nhà thương tỉnh, rồi chết ngoài đó. Không biết thân xác được chôn cất nơi nào.
Ngày hôm sau, ngồi trên mình trâu, Tân cầu nguyện cho hương linh bạn tiêu diêu nơi miền Cực Lạc, nơi không có hận thù, giết hại, đày đọa nhau. Tân  khấn  thầm « Tôi đã nói với anh và bạn bè, thôi ở đâu cũng là quê hương. Giun dế ở đâu cũng là giun dế của một giòng sống Việt Nam, sẽ bầu bạn với thân xác anh. Những ngọn gió hiu quạnh nếu có mang theo lá cây rừng, rải rắc trên nấm mộ thì cũng để nói với anh và chia sẻ với anh nỗi quạnh hiu.Và nếu những chùm hoa dại có nở quanh nơi anh yên nghỉ, thì cũng để nói với anh thế giới nào cũng có những sắc màu. Thôi anh ở lại bình yên, Giun dế sẽ ru anh ngủ. Gió hú qua đám rừng hoang xào xạc sẽ cuộn đi từ hồn anh từng cơn phẩn nộ. Nhưng hãy mỉm cười với sắc xanh của lá cỏ non, vẻ tươi mát của hoa rừng dại. Những gì thiên nhiên vẫn có sẵn để dành cho cõi hồng trần này. Hãy đón nhận anh nhé.. ».(1).
Tân nghĩ, nếu may mắn sum họp với vợ con, gặp Bích Ni, Tân có nên nói cho Bích Ni mối giao hảo giữa anh và Phát và cái chết của Phát không. Trời ơi! Mang một tin khủng khiếp cho người bạn một thời thơ ấu, một thời Tân thầm yêu, trộm nhớ. Nhưng chắc Tân phải nói hết những ngày tù đày bên Phát cho Bích Ni nghe, để nếu có một cơ duyên nào đó, Bích Ni và các con của Phát, sẽ đi tìm nấm mộ người xấu số.

3.-
Một thời tha hương:
Tân cầm tay đứa cháu ngoại năm tuổi, Yvonne, đi qua một công viên đầy cây cối, bóng mát. Khu công viên này khá gần nhà Tân.
Bé Yvonne, đứa cháu ngoại năm tuổi, hằng ngày quấn quít bên ông ngoại, khi ba mẹ của cháu đi làm. Bé Yvonne thường hỏi ông ngoại đủ thứ chuyện, nhiều khi làm Tân bối rối không tìm được câu trả lời cho cháu.
Ði qua một khoảng trống, nhìn về xa xa một tấm quảng cáo khá lớn, có hình vẽ con bò với hàng chữ « La Vache Qui Rit »,(Con Bò Cười). Yvonne liền hỏi:
    - Ông ngoai, ông ngoại nhìn kìa, con bò đẹp quá, phải không, ông ngoại? Nó cho mình sữa uống buổi sáng, cho mình fromage ăn ngon quá. Bên Việt Nam mình có con bò như vậy không? Con muốn được ôm hôn con bò, để biết ơn nó. Ông ngoại đi tìm cho con một con bò, để con làm bạn, ông ngoại nhé. Con muốn được làm bạn với nó, được trèo lên lưng nó, để nó mang cho con đi chơi trên cánh đồng cỏ, đi chơi ở những vùng quê xanh mát, bên các con chim, bên ông ngoại ngồi bên con.
Tân gật đầu, bảo :
    - Ðể ông ngoại xem có nơi nào gần, chúng ta sẽ đi chơi.
Ðêm về trong giấc ngủ ngắn, thức giấc nhiều lần, với nhiều hình ảnh một thời Việt Nam khi còn trẻ, khi tù đày, khi đoàn tụ với vợ con ở Pháp bây giờ,Tân nhớ lời đứa cháu ngoại buổi sáng, muốn làm bạn với một con bò, đi tìm một vùng quê yên tỉnh, trong thế giới, phố phường ồn ào, náo nhiệt ngày nay. Tân dự trù, cuối tuần sẽ đưa vợ và cháu ngoại đi chơi vùng ngoại ô Paris, về một nông trại nào đó, có thể không quen biết, nhưng mình sẽ nói với chủ nông trại, chỉ xin cho cháu ngoại nhìn và có thể lại gần sờ lên mình, lên lưng con bò mà cháu muốn được làm quen.
Buổi sáng, trong bữa điểm tâm với vợ, trước khi bà đi làm, Tân ngõ ý cuối tuần cả nhà đi chới về miền quê, cho Yvonne chạy nhảy, vui đùa với cỏ cây, hoa lá, gió mát thiên nhiên. Vợ Tân rất tán đồng ý kiến của chồng, nói :
    - Ý kiến rất hay anh ạ, cho con bé đi chơi miền quê cho thoáng mát. Tuy nhiên em và con gái có hẹn nhau đi phố, sắm ít đồ đạt lặt vặt và ghé xuống Quận 13 mua ít thực phẩm Việt Nam và Á Ðông. Hai ông cháu cứ đi chơi thoải mái, chiều về. Em nghĩ đi về vùng quê dưới Mélun, không xa lắm, tiện đường metro và em nhớ vùng này có vài nông trại nho nhỏ, nuôi bò sữa và trồng nho.
Yvonne nghe được đi chơi vùng quê, xem con bò La Vache Qui Rit, Con Bò Cười, nhảy lên mừng rối rít, ôm hôn ông bà ngoại.
Sáng chủ nhật, hai ông cháu sau một chuyến xe ngắn, đi vào vùng quê Mélun, nhìn những dàn nho trỉu trái, xa xa từng đàn bò cả chục con đang thảnh thơi gặm cỏ, đuôi lắc lư, đánh qua lại hai bên mông và lưng như để xua đàn ruồi quấy rấy, lâu lâu kêu « ó, ọ, ó ọ » thật bình thản.
Tân giữ bé Yvonne dứng xa xa nhìn đàn bò. Một người đàn ông có vẻ chủ nông trại, đi lại, chào:
    - Chào ông và chào cô bé nhỏ xinh xắn. Tôi là Francois, hân hạnh được biết quí khách đến thăm nông trại. Mời ông vào nhà nói chuyện cho vui.
Tân cúi chào đáp lễ:
    - Chúng tôi làm phiền ông ngày nghỉ ngơi cuối tuần. Tôi chỉ muốn xin phép được đứng đây nhìn vườn nho và đàn bò đang gặm cỏ. Chàu ngoại của tôi, Yvonne muốn được thấy con bò sống, sau khi nhìn hình con bò La Vache Qui Rit, trên tấm bảng quảng cáo về fromage.
Francois chủ nông trại vỗ tay cười :
    - Chúng tôi rất hân hạnh tiếp đón ông và cô bé. Mà ông cho tôi xin lỗi, tôi thấy hình như ông là người... Việt Nam, phải không ạ?
Lại một bất ngờ thích thú, Tân đưa hai tay lên trời, cười lớn:
    - Thưa đúng quá. Tôi là người Việt Nam. Xin lỗi thế sao ông biết hay quá vậy?
    - Ồ là là. Dễ hiểu lắm, vì vợ tôi cũng là người... Việt Nam. Tên bà là Nini. Hy vọng tôi đưa ông vào nhà, gâp vợ tôi ông có thể quen biết lắm đấy, cùng người Việt Nam cả mà.
Francois bước lại xin phép bồng bé Yvonne, đi đến con bò đang gặm cỏ, đặt bé lên lưng con bò. Yvonne thích thú cười vang, vỗ tay.
Một chốc Francois bế Yvonne xuống, đưa hai ông cháu Tân đi vào nhà, gọi vợ inh ỏi:
    - Em ơi, em ơi có quí khách từ Việt Nam qua thăm em và chúng ta đây.
Một người đàn bà Việt Nam chạy ra, thấy Tân và bé Yvonne, tươi cười chào:
    - Chào anh và cháu bé. Lâu quá chúng tôi mới hân hạnh được gặp người cùng xứ sở. Tên tôi là Nini. Thật sự tên Việt của tôi là Bích Ni, nhưng chồng tôi, Francois thích gọi Nini dễ hơn đối với người Pháp.
Tân nghe tim mình đập chậm vài nhịp. Trời ơi, Bích Ni ngày xưa và cũng là vợ của Phát, người bạn tù ở xứ Bắc, đã bỏ mình trên núi rừng trong tù đày. Trên bốn, năm mươi năm, nay gặp lại, nếu không nhắc tên, không thể nào nhận ra.
Bích Ni cũng vừa nhận ra người bạn thời thơ ấu, dù không nhớ được tên nhưng biết rằng đây là người bạn thân lắm.
Tân cười nói:
    - Chúng tôi rất hân hạnh được biết chị Nini và Francois. Ðúng là tha hương ngộ ...cố... nhân. Thật là quả đất tròn và nhỏ lắm bây giờ.
Francois đi tìm quà và đồ chơi cho bé Yvonne, một con búp bê tóc hung. Chợt có tiếng điện thoại reo vang, Francois xin lỗi, bước lại cầm ống nghe, luôn miệng nói oui, oui , vâng vâng, lẫn trong tiếng cười khoái trá.
Xoay qua Nini, Francois nói nho nhỏ vài điều và xin lỗi Tân:
    - Tiếc quá, tôi có việc khá gấp đến đón người bạn. Xin hẹn gặp lại anh và cháu bé Yvonne bất kỳ khi nào anh đến chơi với chúng tôi.

                                                  *  *  *

Bích Ni nghẹn ngào:
    - Năm 1987, tôi nhận được thư mẹ tôi, trong đó có kèm lá thư nhỏ, vỏn vẹn năm dòng trên một tấm giấy vàng ố của anh Phát từ trại tù gởi qua một người bạn mang về khi được thả năm 1983 từ trại tù cải tạo miền Bắc. Anh Phát bị bệnh kiết lị khá nặng mà trại không có thuốc chữa. Anh biết rõ anh đang ở trong thời kỳ sắp chết, nên viết mấy dòng, nhờ người bạn thân nằm cạnh, khi nào được tha về, mang đến gia đình mẹ tôi ở Huế.
Tối hôm trước ngày tôi nhận được lá thư đau lòng, tôi có một giấc chiêm bao ngắn nhưng cứ làm cho tôi thao thức mãi. Trong giấc ngủ, tôi thấy một vòng ánh sáng, bay từ đỉnh tháp Effel, xuống sân nhà tôi, nơi có một con bò đang đứng gặm cỏ. Con bò kêu lên, « ó, ọ, ó ọ » mấy tiếng và vệt sáng bay lại về đỉnh tháp Effel. Tôi giật mình thức giấc, nhớ về anh Phát và cầu nguyện cho anh sớm được về, đoàn tụ với vợ con đang mong chờ. Trưa hôm đó tôi nhận được lá thư... Ðiều lạ là, nhà tôi ở lúc đó là một căn hộ nhỏ, khu nhà chung cư, làm gì có bò, mà tôi lại thấy con bò, đang gặm cỏ trước nhà. Ngay cả khi tôi thức giấc, ngồi dậy, tai tôi vẫn còn nghe tiếng con bò kêu « ó ọ, ó ọ » ngoài sân.
Bích Ni khóc ngất, khi Tân kể cho Bích Ni nghe những ngày anh và Phát cùng ở chung một lán, anh giữ trâu và anh Phát hay chỉ dẫn cho Tân cách săn sóc, cắt cỏ, lùa trâu về chuồng mỗi buổi chiều vì trước đó Phát một thời cũng giữ và chăn trâu.
Bích Ni kể, sau đó bên nhà mẹ và các anh em của Phát, ra tận ngoài Bắc, tìm lên trại tù nơi Phát mất, được chôn và may thay tấm bia mộ bằng đá sơ sài, ghi tên tuổi Phát, ngày sinh, ngày mất còn rõ. Gia đình đã mang hài cốt Phát về cải táng tại An Cựu, nghĩa trang chung cho dòng họ. Tôi đem hai con về ngồi bên mộ anh trong một buổi chiều gió lạnh.
Sau này khi trở về lại Pháp, hai con học thành tài, có gia đình. Tôi ở với gia đình con gái và rễ, một thanh niên Pháp, tôi lại có những giấc chiêm bao vòng ánh sáng bay từ đỉnh tháp Effel xuống lưng con bò gặm cỏ trước nhà.
Một hôm, cuối tuần, tôi và vợ chồng con gái về vùng ngoại ô của Paris chơi. Ðó là nông trại nho nhỏ của Francois, bà con bên mẹ của cậu rễ của tôi. Francois tiếp đón chúng tôi thật tử tế, lịch thiệp và hiếu khách. Ðang vui chơi ngoài sân cỏ, trời chợt kéo đầy mây mù và sắp có một cơn mưa đầu mùa hè. Tự nhiên tôi lại thấy vòng sáng từ một làn chớp bay sà xuống bên đầu Francois, đang đứng bên con bò đang thảnh thơi gặm cỏ. Con bò kêu lên « ó, ọ., ó ọ » mấy tiếng và sau đó mưa đổ xuống nặng hột như mưa hè bên mình.
Mối tình chắp nối cuối đời của tôi và Francois bắt đầu từ đó. Các con, cháu của tôi có cuộc sống riêng, tôi về với Francois ở nông trại nhỏ bé này, vui với cuộc sống miền thôn dã và Francois săn sóc yêu thương bên tôi.
Có tiếng còi xe tin tin ngoài sân. Bích Ni chạy ra, ôm choàng Francois vừa về. Francois xin lỗi tôi và bé Yvonne, đưa chúng tôi vào lại nhà, nói với tôi:
    - Này bạn Tân của tôi, anh vào đây, tôi chỉ cho anh xem mấy bức tranh tôi mua ở Việt Nam nhân dịp chúng tôi đi thăm Việt Nam năm trước với Nini và các con của chúng tôi. Mấy bức tranh này tôi mua ở chùa Diệu Ðế ở Huế. Anh xem cho vui.
Nhìn các bức tranh bằng mực Tàu treo trên tường, tôi ngạc nhiên sững sốt. Francois đứng bên tôi nói:
    - Thực sự tôi không hiểu hết ý nghĩa trong mười bức tranh này, nhưng tôi thích. Rất thích.Thế thôi. Nhín mãi các bức tranh, tôi càng thấy tâm hồn mình thanh thản, như không còn một trói buộc nào. Nhẹ nhàng. Thư thản. Trong sách bảo là An Nhiên Tự Tại. Tôi nghĩ chắc là vậy.
Tân thật đăm chiêu:
    - Ðây là Mười Bức Tranh Chăn Trâu của Thiền Tông (2), tôi có nghe nói và xem trong sách, nhưng cũng chẳng hiểu bao nhiêu như Francois.
Francois cười nói:
    - Nông trại của tôi không có trâu như bên Việt Nam, nên tôi thấy các con bò thay thế vào đó cũng được, phải không người bạn mới của tôi?
Bích Ni đứng phía sau nói cho Tân và Francois nghe:
    - Hồi nhỏ tôi và anh Tân đây cũng từng chăn trâu với nhau đấy, Francois ạ!.
Chúng tôi cùng cười vang. Yvonne chạy ra sân, đứng bên con bò ở góc vướn đang gặm cỏ. Francois chạy ra, bế Yvonne lên. đặt ngồi lên lưng bò.
Buổi chiều xuống chầm chậm. Vài ngọn gió mát hiu hiu thổi./.

                                                                               

XUÂN  ÐỖ

(Viết tặng bạn tôi LMV)

Ghi chú:
(1)Trích trong « Sau Cuộc Chiến” LMV& XÐ trang 55.
(2) Tranh Thập Mục Ngưu Ðồ. Mười Bức Tranh Chăn Trâu
(Thiền Sư Khuếch Am Sư Viễn vẽ, khoảng năm 1150)
(Thiền Luận Daisetz Teitaro Suzuki.
Bản dịch của Trúc Thiên & Thích Tuệ Sĩ)

 

 
< Prev   Next >
 
Top! Top!