space gif
left jpg
xq-lightblue logo
Home arrow Văn Học arrow Truyện ngắn arrow Nguyễn Nam An, và Đà Nẵng của Tôi (*)
Friday, 10 September 2010
 
 
Home
Văn Học
Văn Hóa
Sử Địa
Địa Linh Nhân Kiệt
Mỹ Thuật
Âm Nhạc
Bài Đăng Trong Tuần
Diễn Đàn
Forum-RSS
Cùng tác giả/chủ đề
Chọn Template
xq-lightblue
Nguyễn Nam An, và Đà Nẵng của Tôi (*) | Print |  E-mail
Written by Hoàng Nga   
Sunday, 07 February 2010
HOÀNG NGA

NGUYỄN NAM AN, VÀ ĐÀ NẴNG CỦA TÔI (*)

 

Tôi rời Đà Nẵng năm hơn mười bảy tuổi. Lúc Đà Nẵng chỉ mới vừa bị rơi vào tay chủ mới. Khi thị xã, như Nguyễn Nam An canh cánh “trong đầu anh còn tấm bản đồ thứ thiệt. Những con đường khi chưa bị thay tên” (Sáng Mai Đà Nẵng Thức). Khi những tàn hoang phố xá chưa kịp đến. Những quán những hàng, những nơi những chốn một thời của chúng tôi chưa bị dày xéo, nát tan.

Tôi rời Đà Nẵng, rời khung trời thân thương ấy lúc cà phê Lộng Ngọc “nằm đường Phan Đình Phùng, gần ngã tư Độc Lập chứ lạ gì”, hay “cà phê Tuổi Ngọc góc trường Nữ Trung Học Hồng Đức” không còn được kể là “hot” nữa, mà thay vào đó bằng Crystal, Danube… lộng lẫy hơn, tây hơn, với lò sưởi, thảm đỏ, đàn dương cầm…

Năm bảy ba, khi tôi bắt đầu chập chững tập những bước chachacha, tango đầu tiên, thì Nguyễn Nam An cũng rời nơi ấy. Cũng hơn mười bảy tuổi. Không biết trong “xóm tôi ở, đám choai choai chia làm hai loại. Đi học và đi bụi đời… Đám cô hồn có mấy thằng con nhà giàu. Đến tuổi ăn chơi tối tối tụi nó tập nhảy đầm với nhau ở sân nhà” (Chỗ Cái Xóm), có “thằng” nào tôi quen, hay từng tập nhảy đầm với tôi không. Nhưng “đường Gia Long là con đường những buổi trưa hè tuổi nhỏ tôi- Nguyễn Nam An- lang thang đi phá xóm phá làng” lại là con đường tôi vẫn về qua hàng ngày đón bạn đi học. Con đường, nơi có căn nhà Nguyễn Nam An được sinh ra, là con đường tôi cũng lạ gì, “xuống tí nữa, góc Gia Long – Lê Lợi là dinh của ông tướng Nguyễn Chánh Thi tư lệnh vùng một chiến thuật thời đó. Xuống thêm tí nữa là căn nhà có vườn cây ăn trái rất đẹp của bác sĩ Thái Can” (Hân Tố Tố). Dinh ông tướng, nhà bác sĩ Thái Can, dưỡng đường bác sĩ Phùng Văn Hạnh…, cũng như An, tôi qua lại hàng ngày. Căn nhà “nơi anh đã lọt lòng mẹ thuở xưa” (SMDNT), hẳn tôi cũng đã về qua, ngang qua.

Đà Nẵng của tôi, những ngày chưa mất nước, tôi biết có chiến tranh, nhưng chiến tranh như ở đâu đó, xa tầm mắt tôi. Và đời lính chiến cũng thật hoàn toàn xa lạ. Nếu như theo lời anh, Nguyễn Nam An chưa từng bao giờ để mắt tới con nhỏ tóc dài mang kính cận hippy áo đầm mini ngắn cũn cỡn vẫn đạp xe ngang qua ngõ nhà anh hằng ngày, là tôi xưa, như thế, thì tôi cũng đã chẳng từng ngoảnh lại nhìn một gương mặt, một ánh mắt của người thanh niên trong bộ quân phục lần nào, cho dẫu đó là đồ ngụy trang tác chiến của một đơn vị tổng trừ bị quân lực một thời.

Thế giới của tôi không có những đêm quân hành, những gạo sấy, những “tháng hai Hòa Ninh tháng ba Nam Ô/ những ngày quân qua miền Trung cằn khô…” như An từng phải trải. Nên thế giới của An cũng không có những đứa con gái con trai tóc dài jupe ngắn chiều chiều lượn lờ xuống phố.

Thời thơ ấu của tôi và An càng không có điểm nào chung. Nhà tôi ở gần bàu Thạc Gián, nhưng tôi chẳng nhớ chi tiết nào nơi đó cho đến lúc quen biết An và đọc An. Bởi giản dị một điều An có “bạn ấu thời tôi là Hân. Nguyễn Di Hân ở gần bàu Thạc Gián”; còn tôi thì lại chẳng hề quen biết một ai trong khu vực ấy. Bạn của tôi, nhà dưới phố, dưới ngã năm, hay cạnh bờ sông, những nơi nào đó của thị xã… Chúng tôi đã cùng sống chung một thành phố, hẳn từng thở chung một bầu trời, cũng chỉ hơn thua nhau vài ba tuổi, có thể từng nhìn thấy nhau một đôi lần, nhưng ký ức tôi và An gần như hoàn toàn khác với ký ức An.

Tôi chưa bao giờ đi coi phim,“rạp cuối ở gần chợ Cồn, nên chủ đặt tên như vậy: Xinê Chợ Cồn! Đây là rạp chiếu bóng rẻ tiền dành cho con nít đi `bụi đời`và học trò trốn học”. Lại càng không bao giờ đến “ngã ba đường Hùng Vương- Nguyễn Thị Giang có chỗ cho mướn sách, phần lớn là truyện kiếm hiệp”. Tuổi thơ của tôi, của anh chị em chúng tôi, gắn liền với những nơi Nguyễn Nam An chẳng đặt chân đến. Bầu trời của tôi cũng như không phải là bầu trời của An.

Bởi một điều, mà như sau này tôi vẫn thường nói với An, rằng tôi ân hận, và dẫu muộn, cũng nên cho tôi được nói tiếng cám ơn những người mẹ “có con đi lính tác chiến là sinh ra vất ngoài chợ“ (Đêm Bay Qua Biển), cám ơn anh, cám ơn những người bạn chiến đấu của anh từng chốt ở Nam Ô, ở Túy Loan…, cho tôi những ngày bình an ở thành phố ấy.

Nguyễn Nam An có trí nhớ rất siêu phàm. Anh nhớ từng chi tiết nhỏ. Từng góc phố, từng con đường. Từng nơi từng chốn anh đã qua ở thành phố ấy. Nhiều chi tiết vụn vặt, gần như không còn trong trí nhớ tôi bỗng bừng sáng lên khi đọc những giòng hồi ức nồng nàn của anh.

Người ta thường hay nói, nhà văn nào nhiều vốn sống, sẽ viết dễ dàng. Tôi không biết Nguyễn Nam An có nhiều vốn sống không. Đọc anh, thấy anh sống ở Đà Nẵng mười mấy năm, lòng vòng những con đường thời thơ ấu, những chợ Đống Đa, đường Gia Long, Nguyễn Du…, học hai trường, Nam tiểu học và Phan Chu Trinh; lớn lên đi lính, phải qua nhiều nơi, miền Trung, Xuân Lộc, Phước Tuy…, và rồi, đi Mỹ, ở Buffalo, New York, ở Irvine, ở Bolsa; đi làm, theo project qua Singapore, qua Mã Lai… Đuờng đời, anh lận đận đôi cuộc tình, đổ vỡ một hôn nhân. Tôi chẳng biết như vậy, có thể khẳng định một cái “vốn sống”, khẳng định được một sự “dễ viết” nào đó được hay chăng?

Khách quan mà nói, chắc có thể nói, cũng đúng. Bởi đôi khi độc giả sẽ bắt gặp anh viết cùng đề tài, xử dụng cùng không gian, thời gian nhưng mỗi truyện của anh sẽ mỗi khác. Chẳng hạn, “Đêm Bay Qua Biển” và “Như Hoa Cỏ Rụng”, cùng nói về thời lữ đoàn 1 Dù nhảy xuống Xuân Lộc, về cùng một nhân vật nữ. Nhưng rõ ràng ý đã không trùng lặp. Cách viết cũng không giống hệt nhau. Một điều mà khi trải những trang chữ mình lên giấy, người viết dễ bị “đụng” phải.

Sự thành công của Nguyễn Nam An, tôi nghĩ, nằm ở đó. Hai mươi truyện, trừ một, mười chín truyện còn lại, đó đây những góc đường quen thuộc, những ngôi trường quen tên, nhưng không hề có sự lập lại.

Tuy nhiên, cũng chính vì cái “vốn sống” nhiều như thế, kinh nghiệm đã trải qua nhiều như thế, thì độc giả, đôi khi, sẽ cảm thấy hơi “mệt” cới Nguyễn Nam An. Bởi anh đã xử dụng khá nhiều chữ, nhiều tình tiết, nhiều tên nhân vật của tiểu thuyết kiếm hiệp. Anh có vẻ hơi “tự tin”, nên hơi “lạm dụng”.

Thử mường tượng, nếu có một người nào đó chưa hề có dịp đọc Cô Gái Đồ Long, Thiên Long Bát Bộ, nói chung chưa nghiền ngẫm Kim Dung, hay chưa hề coi một bộ phim tập, chắc hẳn sẽ ngẩn người vì Hân Tố Tố, vì Đoàn Chính Thuần của Nguyễn Nam An. Chắc hẳn sẽ bị rối trí vì không hiểu tác giả muốn nói điều gì.

Hơn như thế một tí, có thể nói vì chủ quan, nên thỉnh thoảng Nguyễn Nam An đã đưa độc giả lọt vào một tình trạng hết sức bỡ ngỡ. Vì chủ quan, nên anh đã “tưởng bở” độc giả có thể hiểu trọn vẹn những điều anh trải qua, trong đó những cảm giác, cảm nghĩ, gụi gần với anh, cơ hồ huyết và thịt trong cơ thể anh, mà quên mất rằng, họ, độc giả, chao ơi, có quen biết gì với cô áo vàng của A Ngưu!

Tôi thử đơn cử một ví dụ, rằng nếu như bạn đang ở nước Mỹ, Anh, Pháp, Úc, thấy tôi viết “bitte zurueck bleiben!” (*), nhưng không lời chú giải, một câu mà mỗi ngày hai bận đi xe lửa đến chỗ làm, tôi vẫn phải nghe -quen quá, rành quá, biết quá, chính xác quá là cái gì- cứ thử đi, không hề biết tiếng Đức, tôi cam đoan, đánh bảy búa chắc chắn bạn cũng chẳng hiểu câu ấy có nghĩa gì!

Tuy nhiên, viết vậy, nói vậy, vì như lần nhà văn Mai Kim Ngọc viết về cuốn sách đầu tay của tôi đã nói phê bình thì phải có khen có chê; và mặc dầu tôi không có ý định chuyển sang viết phê bình văn học, mà chỉ muốn ghi lại vài cảm nghĩ của mình, vài “khen chê” của tôi khi đọc “Tiểu Triệu Minh”.

Để chấm dứt, tôi xin chân thành gửi đến An Phú Vang – bút hiệu của Nguyễn Nam An khi viết văn – lời cám ơn, rằng anh đã đưa tôi về lại Đà Nẵng bằng những mối chân tình nồng ấm xuyên suốt hai mươi truyện ngắn của anh. Và xin nói thêm, nếu ai không cảm động khi đọc anh, có lẽ đành phải đổ thừa rằng người ấy không là người Đà Nẵng…


HOÀNG NGA

  • Đọc Tiểu Triệu Minh, An Phú Vang. Quyên Book, 2005
  • Bitte zurueck bleiben : làm ơn lùi lại.


 
< Prev   Next >
 
Top! Top!