Chợ Miêu Bông nằm cách quê nội tôi một dòng sông nhỏ. Đây là
một ngôi chợ ở vùng quê, nhưng có chút hơi thở thị thành, nhờ không cách
xa thành phố Đà Nẵng bao nhiêu, và nhờ những chuyến xe đò ngược, xuôi
vẫn thường dừng ngay trước chợ. Vào đầu thập niên năm mươi, tôi có hai
người bà con, thím Diên và bác Hội Du, buôn bán ở ngôi chợ này.
Có những bài thơ, những nhạc phẩm, gợi nên những
lưu luyến nhớ nhung đến những thành phố thân yêu trên quê hương, mà nay đã nghìn
trùng cách biệt. Những "Đêm Tàn Bến Ngự" của Dương Thiệu Tước, "Sầu Cố Đô" của
Duy Khánh, "Ai Lên Xứ Hoa Đào" của Hoàng Nguyên, "Nha Trang Ngày Về" của Phạm
Duy, "Sài Gòn" của Y Vân "Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội" của Phạm Đình Chương...
Lời dịch giả: Những tác phẩm của Peter Carey, tiểu thuyết gia gốc Úc 2
lần được giải thưởng Booker, là những vùng mỏ phong phú cho các nhà phê
bình văn học trên thế giới truy tầm những đặc sắc Kafka, hiện thực
huyền ảo, hậu hiện đại, và hậu thực dân. Peter Philip Carey sinh năm
1943 ở Bacchus Marsh, tiểu bang Victoria, Úc. Thân phụ kinh doanh một
đại lý và xưởng sửa xe hơi, đã cho ông theo học trường tiểu trung học
tư dành cho con em những gia đình giàu có. Gặp tai nạn và bỏ học sau
một năm ở đại học, ông làm việc cho các hãng phụ trách quảng cáo ở
Melbourne và London. Ông đọc say mê các tác phẩm của Joyce, Beckett,
Kafka, Faulkner, và bắt đầu sáng tác từ 1964. Tác phẩm được in trọn bộ
đầu tiên là tập truyện ngắn "Ông Mập Trong Lịch Sử - The Fat Man In
History" năm 1974. Tập truyện ngắn sau đó "Tội Ác Chiến Tranh - War
Crimes" (1979) được giải thưởng văn học của Thủ Hiến New South Wales,
Úc.
Trên vòm trời thơ Việt, mỗi nhà thơ chỉ xẹt ngang trời như một vì sao
đổi ngôi, để lại vài tia hồi quang đã là điều may mắn. Một trong những
vì sao đó: thi sĩ Phạm Hầu, người gốc Điện Bàn, Quảng Nam, sinh năm
1920, đã từng học trường Quốc học Huế và trường Mỹ thuật Đông Dương.
Sinh thời, ông chỉ có một số bài thơ in báo Tao Đàn và Mùa gặt mới. Nhờ
mắt xanh của hai ông Hoài Thanh - Hoài Chân, tên ông đã được ghi vào
thi sử Thi nhân Việt Nam. Nếu không có cuốn sách này, chắc chắn lớp độc
giả ngày nay không thể biết Phạm Hầu là ai. Thơ in sách thì còn thọ
lâu, thơ in báo là dễ… “hồng nhan bạc phận”.
Ở Seattle trời cũng mưa nhiều như Huế. Không xa đó, vùng phố suối
Snoqualmie lại càng quá hiếm hoi những ngày ráo tạnh. Với Mệ Ngâu thì
hình như lúc nào trời cũng mưa, ngay cả lúc mặt trời soi bóng. Mệ vẫn
thường nghĩ vậy mỗi lần đứng nhìn giòng thác đổ. Hơi nước trắng lịm phả
vụt lên trời làn sương mưa làm lóng lánh ngủ sắc vầng nắng mai bừng lên
trên đầu ngọn suối.
Mệ Ngâu tới công viên bên suối hầu như vào mỗi buổi sáng. Mệ ngồi nhìn
tảng nước sa sầm xuống vực đá rồi quẩy tung lên thoắt hiện mưa giăng,
sương sương mờ mờ làn cung vũ. Mắt mệ dầm trong mưa, nhớ về những
chuyện xa lắc xa lơ đời mình cũng dầm trong mưa, thắm thiết ân cần. Có
lần mệ Ngâu buột miệng nói với người giữ công viên ý nghĩ chợt đến
trong đầu, rồi bật nhớ ra cười.
- Cũng may ôn là người Việt, chớ không thì dị òm. Ngồi đây mà cứ tưởng như đương ngồi bên bờ Phá.
Người làm vườn, trạc tuổi con trai lớn của mệ, đang tỉa dọn cây cảnh gần ghế đá nơi mệ đang ngồi, cũng cười theo.
- Cụ nói đúng đó. Trời ở Phá Tam Giang nhìn lúc nào cũng như đang
mưa nhưng kỳ vỹ bao la hơn. Lớn lên, quen với Bắc Mỹ Thuận, Ninh
Kiều, cháu đã ngây người đứng nhìn Phá Tam Giang lần đầu tiên hành quân
ra Huế sau tết Mậu Thân.